Nguyễn Văn Trỗi – Bản Hùng Ca Bất Tử Của Tuổi Trẻ Việt Nam
Tác giả : Đồng Thị Như Quỳnh Lớp : K15A.GDMN Trường Đại học Hải Dương

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, có biết bao người con ưu tú đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ đã hiến dâng cả thanh xuân cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Một trong những biểu tượng sáng ngời nhất cho ý chí kiên cường, khí phách hiên ngang trước kẻ thù chính là người anh hùng biệt động thành Sài Gòn – Nguyễn Văn Trỗi. Sự hy sinh oanh liệt của anh không chỉ là một sự kiện lịch sử mà đã biến thành một bản hùng ca bất tử, truyền ngọn lửa yêu nước cho thế hệ mai sau.
Nguyễn Văn Trỗi sinh năm 1940 tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo giàu truyền thống cách mạng, tuổi thơ của anh đã sớm chứng kiến nỗi đau mất mát và sự tàn khốc của chiến tranh. Năm 1956, khi vừa tròn 16 tuổi, anh một mình vào Sài Gòn mưu sinh. Sau một thời gian làm lụng vất vả, anh trở thành công nhân thợ điện tại Nhà máy điện Chợ Quán. Chính cuộc sống gian khổ của người lao động dưới ách áp bức của chế độ thực dân mới đã giúp anh sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng. Anh hăng hái tham gia vào tổ chức Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng miền Nam và nhanh chóng trở thành một chiến sĩ biệt động nội thành bí mật, gan dạ của biệt động Sài Gòn.
Tháng 5 năm 1964, cuộc sống của Nguyễn Văn Trỗi bước vào một bước ngoặt lớn. Ngay sau khi vừa kết hôn với người bạn đời Phan Thị Quyên được mười ngày, anh nhận được nhiệm vụ đặc biệt từ tổ chức. Đó là đặt mìn tại cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi, Thành phố Hồ Chí Minh) để tiêu diệt phái đoàn quân sự cao cấp của Mỹ do Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu. Đây là một nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm nhưng có ý nghĩa chiến lược lớn nhằm giáng một đòn mạnh mẽ vào ý chí xâm lược của kẻ thù. Với tinh thần quả cảm, anh Trỗi cùng đồng đội đã tích cực chuẩn bị. Tuy nhiên, khi kế hoạch đang bước vào giai đoạn quyết định thì bất ngờ bị bại lộ do có kẻ phản bội. Nguyễn Văn Trỗi bị địch bắt giữ ngay tại trận địa vào đêm ngày 9 tháng 5 năm 1964.
Rơi vào tay giặc, người chiến sĩ trẻ phải đối mặt với những chuỗi ngày đen tối tại nhà tù Sài Gòn. Kẻ thù đã dùng mọi thủ đoạn nham hiểm, từ mua chuộc, dụ dỗ bằng tiền tài, danh vọng cho đến những đòn tra tấn dã man, tàn khốc nhất hòng khuất phục anh. Chúng muốn anh khai ra tổ chức và đồng đội của mình. Thế nhưng, trước sự hung bạo của kẻ thù, Nguyễn Văn Trỗi vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản. Anh không hé răng nửa lời, chấp nhận chịu đựng mọi đau đớn thể xác để bảo vệ an toàn cho mạch máu cách mạng của thành phố.
Không thể khuất phục được người chiến sĩ kiên trung, chính quyền tay sai Sài Gòn đã quyết định đưa anh ra tòa án quân sự và kết án tử hình. Vào lúc 9 giờ 45 phút ngày 15 tháng 10 năm 1964, Nguyễn Văn Trỗi bị áp giải đến pháp trường tại vườn bàng khám Chí Hòa để thi hành án. Kẻ thù muốn dùng cái chết để răn đe phong trào yêu nước, nhưng chúng không ngờ rằng chính pháp trường lại là nơi người anh hùng tỏa sáng rực rỡ nhất.
Trước giờ phút hành quyết, Nguyễn Văn Trỗi thể hiện một thái độ vô cùng hiên ngang và chủ động. Anh dứt khoát từ chối tấm băng đen bịt mắt của kẻ thù và dõng dạc nói: "Không, phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi!". Đối mặt với họng súng của đội hành hình, anh không hề run sợ mà biến những giây phút cuối cùng thành một diễn đàn vạch trần tội ác xâm lược. Anh hô vang những lời gan ruột, chấn động không gian:
"Hãy nhớ lấy lời tôi!
Đả đảo đế quốc Mỹ!
Đả đảo Nguyễn Khánh!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Việt Nam muôn năm!"
Chính tiếng hô vang dội của anh vào giây phút ngã xuống đã biến cái chết thành một sự bất tử. Sự hy sinh oanh liệt ở tuổi 24 của Nguyễn Văn Trỗi đã làm rung chuyển dư luận trong nước và quốc tế. Tấm gương của anh đã thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh mạnh mẽ của tầng lớp học sinh, sinh viên và nhân dân miền Nam, đồng thời nhận được sự kính trọng sâu sắc từ bạn bè yêu chuộng hòa bình trên khắp thế giới.
Nguyễn Văn Trỗi đã ra đi, nhưng tinh thần và khí phách của anh vẫn còn sống mãi với non sông đất nước. Anh là minh chứng hùng hồn cho câu nói "Chết vinh còn hơn sống nhục", là biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước và ý chí quật cường của thế hệ trẻ Việt Nam. Tên anh đã được đặt cho nhiều trường học, con đường và công trình lớn trên khắp cả nước, nhắc nhở thế hệ hôm nay về một tượng đài anh hùng đã sống và hy sinh trọn vẹn cho Tổ quốc.



