Nguyễn Văn Trỗi – Dáng đứng hiên ngang làm nên tầm vóc một trang sử.
Có những con người như những vì sao băng vụt sáng giữa bầu trời lịch sử dân tộc. Dẫu chỉ là một khoảnh khắc ngắn nhưng “ánh sáng” của họ đủ là rực sáng cả một bầu trời lịch sử. Họ gửi gắm tuổi xuân cho lý tưởng cách mạng, họ dùng máu và lòng tin viết nên trang sử không bao giờ nhạt phai. Trong hàng vạn sao băng ấy, Nguyễn Văn Trổi hiện lên như một biểu tượng của khí phách, tinh thần bất khuất và lòng yêu nước nồng nàn.
Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1 tháng 2 năm 1940 và mất ngày15 tháng 10 năm 1964, lúc này anh chỉ mới 24 tuổi. Anh được sinh ra trong làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là Đà Nẵng), một nơi giàu truyền thống cách mạng. Nguyễn Văn Trỗi lớn lên trong bối cảnh đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh nên từ rất sớm, anh đã thấu hiểu nỗi đau mất nước và hun đúc trong lòng ý chí vươn lên, khát vọng giải phóng quê hương.
Sau hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), anh theo gia đình rời quê vào Nam, đặt chân đến Sài Gòn và bắt đầu cuộc sống mưu sinh đầy gian khổ khó khăn. Giữa chốn đô thị phồn hoa nhưng ẩn chứa nhiều bất công ẩn khuất, anh vừa lao động vất vả để kiếm sống, vừa kiên trì mày mò học nghề điện rồi cuối cùng trở thành thợ điện tại Nhà máy điện Chợ Quán. Cuộc sống bình dị ấy lại chính là nơi ươm mầm cho lý tưởng cách mạng nảy nở và lớn lên mạnh mẽ trong con người Nguyễn Văn Trỗi.
Khoảng giữa năm 1963, Nguyễn Văn Trỗi gia nhập lực lượng biệt động Sài Gòn, một lực lượng chiến đấu đặc biệt gan dạ, hoạt động bí mật giữa lòng đô thị và trở thành chiến sĩ thuộc Đội biệt động 65, Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Từ đây, cuộc đời anh bước sang một trang mới: trang đời của chiến đấu, sự hy sinh và cống hiến trọn vẹn cho Tổ quốc. Trong mọi nhiệm vụ được giao, anh luôn thể hiện bản lĩnh vững vàng, tinh thần quả cảm và sự mưu trí đáng khâm phục.
Đặc biệt, nhiệm vụ đặt mìn tại cầu Công Lý vào tháng 5 năm 1964 là một trong những nhiệm vụ mang tính chiến lược và vô cùng hiểm nguy. Khi hay tin Robert McNamara – Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, sẽ dẫn đầu phái đoàn quân sự cấp cao đến Sài Gòn thị sát chiến trường, lực lượng cách mạng đã xây dựng kế hoạch nhằm tập kích đoàn xe này ngay trên tuyến đường từ sân bay Tân Sơn Nhất vào trung tâm thành phố. Nguyễn Văn Trỗi được giao trực tiếp thực hiện khâu then chốt: bí mật tiếp cận khu vực cầu Công Lý, khảo sát địa hình, lựa chọn vị trí đặt mìn sao cho đạt hiệu quả cao nhất, đồng thời phải tuyệt đối giữ bí mật để tránh bị đối phương phát hiện.
Đáng chú ý, vào thời điểm nhận nhiệm vụ này anh vừa mới kết hôn với chị Phan Thị Quyên trong một lễ cưới giản dị nhưng đong đầy nghĩa tình. Hạnh phúc lứa đôi vừa chớm nở chưa được bao lâu thì anh đã phải tạm gác lại tất cả, bởi trong anh, tình yêu cá nhân luôn hòa quyện và nhường chỗ cho tình yêu Tổ quốc.
Anh cùng đồng đội đã chuẩn bị kỹ lưỡng, mang theo khối thuốc nổ nặng khoảng 8kg, lặng lẽ tiếp cận khu vực cầu trong điều kiện hết sức nguy hiểm. Nhiệm vụ này không chỉ đòi hỏi lòng dũng cảm mà còn yêu cầu sự chính xác, kiên nhẫn và khả năng xử lý tình huống linh hoạt, bởi chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể khiến toàn bộ kế hoạch mà đã bỏ bao công sức sẽ hoàn toàn thất bại. Tuy nhiên, khi công việc đang trong giai đoạn hoàn tất thì không may bị lộ, Nguyễn Văn Trỗi bị bắt ngay tại hiện trường. Trước tình thế nguy cấp, anh lập tức nhận toàn bộ trách nhiệm về mình, kiên quyết không để lộ bất kỳ thông tin nào liên quan đến tổ chức và đồng đội.
Trong ngục tù, trước những đòn tra tấn tàn khốc, anh không khai báo, không nao núng, dũng cảm bảo vệ bí mật cách mạng. Dù bị đưa ra xét xử và tuyên án tử hình, anh vẫn hiên ngang, biến phiên tòa của kẻ thù thành nơi lên án chiến tranh phi nghĩa và khẳng định chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Trong thời gian bị giam giữ, Nguyễn Văn Trỗi đã phải chịu đựng vô vàn cực hình tra tấn nhưng chưa một lần lung lay ý chí. Anh vẫn giữ trọn khí tiết của người cộng sản, kiên quyết bảo vệ cơ sở cách mạng và nuôi dưỡng khát vọng vượt ngục để tiếp tục chiến đấu.
Giữa chốn lao tù khắc nghiệt, lời nói của anh vang lên như một chân lý giản dị mà sâu sắc: “Còn giặc Mỹ, không ai có hạnh phúc cả.” Câu nói ấy không chỉ lay động trái tim nhân dân Việt Nam mà còn thức tỉnh lương tri của những con người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Và hơn thế nữa, anh từng khẳng định với tất cả niềm tin sắt son: “Sống làm người cách mạng, chết cũng làm người cách mạng.” một tuyên ngôn ngắn gọn nhưng hàm chứa trọn vẹn lý tưởng sống và khí phách bất khuất của anh.
Không chỉ dừng lại ở những hành động anh dũng trong chiến đấu, Nguyễn Văn Trỗi còn để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng lịch sử bằng tư thế hiên ngang ở những giây phút cuối cùng của cuộc đời. Vào 9 giờ 59 phút, ngày 15/10/1964, trước sự chứng kiến của nhiều phóng viên quốc tế, Nguyễn Văn Trỗi bị xử bắn tại Khám Chí Hòa, tại pháp trường, anh bình thản đối diện với cái chết như đối diện với một lẽ tất yếu của người chiến sĩ. Khi kẻ thù định bịt mắt, anh giật phăng tấm băng đen, kiên quyết nói: “Không, phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi.” Đó không chỉ là một hành động, mà là biểu tượng của tình yêu đất nước sâu nặng, của khát vọng được hòa mình trọn vẹn với Tổ quốc đến giây phút cuối cùng. Và rồi, trong khoảnh khắc thiêng liêng ấy, tiếng hô của anh vang lên dõng dạc: “Hãy nhớ lấy lời tôi. Đả đảo đế quốc Mỹ. Đả đảo Nguyễn Khánh. Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!”
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ca ngợi sự hy sinh, dũng cảm và lòng kiên trung của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi: “Vì Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng. Chí khí lẫm liệt của anh hùng Trỗi là một tấm gương hy sinh cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước, nhất là các cháu thanh niên học tập.”
Trong phiên họp bất thường ngày 17 tháng 10 năm 1964, Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã quyết định truy tặng Nguyễn Văn Trỗi danh hiệu Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng và Huân chương Thành đồng hạng nhất. Năm 1995, Đảng và Nhà nước đã truy tặng anh danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.



