Nguyễn Văn Trỗi
Bài viết kể về cuộc đời của chiến sĩ Nguyễn Văn Trỗi - Hành trình phát triển bản thân
Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi là một biểu tượng rực rỡ của tinh thần yêu nước, chí khí kiên cường và lòng dũng cảm bất khuất của thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nhắc đến anh, người ta thường nhớ ngay đến 9 phút cuối cùng đầy khí phách trên pháp trường Chí Hòa, nơi anh biến giây phút hành quyết thành một bản anh hùng ca rung chuyển truyền thông quốc tế. Tuy nhiên, đằng sau sự hy sinh oanh liệt ấy là cả một hành trình tự rèn luyện, trưởng thành và phát triển bản thân mạnh mẽ của một người thanh niên xuất thân từ nông thôn nghèo khó, tự tay nhào nặn nên nhân cách và lý tưởng sống cao đẹp của mình.
Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1/2/1940 tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Sinh ra trên vùng đất nghèo khó nhưng giàu truyền thống cách mạng, tuổi thơ của cậu bé Trỗi phải nếm trải sớm những đắng cay, mất mát do chiến tranh gây ra. Người mẹ qua đời sớm khi anh mới lên bốn tuổi, gia đình lại đông anh em, cuộc sống chật vật bấp bấp khiến Trỗi không có điều kiện đi học đàng hoàng như bao bạn bè đồng lứa. Nắng gió rát mặt của miền Trung cùng những cơ cực gian cặn đã sớm đúc kết ở cậu bé Trỗi một tính cách tự lập, lỳ lợm, giàu lòng tự trọng và đặc biệt là sự nhạy cảm sâu sắc trước những bất công xã hội.
Năm 1956, khi mới 16 tuổi, rời bỏ quê hương nghèo khó, Nguyễn Văn Trỗi quyết định nam tiến vào Sài Gòn để tìm đường mưu sinh và học nghề. Sài Gòn những năm cuối thập niên 50 của thế kỷ XX là một môi trường vô cùng phức tạp, nơi sự phồn hoa đô thị đan xen với sự bộc lột hà khắc, bất công xã hội và sự can thiệp ngày càng sâu của đế quốc Mỹ. Một cậu thiếu niên tỉnh lẻ chân đất mắt toét bước chân vào chốn đô hội sầm uất đầy cạm bẫy ấy rất dễ bị sa ngã hoặc buông xuôi theo dòng đời. Nhưng Nguyễn Văn Trỗi thì khác, anh sở hữu một bản lĩnh sống kiên định và khát vọng vươn lên mãnh liệt.
Tại Sài Gòn, anh Trỗi làm đủ mọi nghề vất vả để kiếm sống, từ đạp xe xích lô, làm thợ phụ, cho đến khi xin vào làm thợ điện tại Hãng hỏa xa Sài Gòn và sau đó là Nhà máy điện Chợ Quán. Hành trình phát triển bản thân của Nguyễn Văn Trỗi bắt đầu rõ nét nhất từ chính những năm tháng làm thợ này. Nhận thức được rằng muốn sống đàng hoàng và đứng vững trên đôi chân của mình thì phải có tay nghề giỏi, anh Trỗi đã dốc sức tự học, làm việc chăm chỉ không quản ngày đêm. Anh tỉ mẩn quan sát các đồng nghiệp đi trước, học hỏi từng thao tác kỹ thuật, tận dụng từng giờ nghỉ để tìm hiểu về máy móc, sơ đồ mạch điện. Từ một người thợ phụ không qua trường lớp bài bản, nhờ sự cần cù, thông minh và tinh thần kỷ luật cao, anh nhanh chóng trở thành một người thợ điện tay nghề cao, được bạn bè đồng nghiệp quý mến, nể trọng và giới chủ đánh giá cao.
Sự phát triển bản thân của anh Trỗi không chỉ dừng lại ở việc nâng cao tay nghề mưu sinh, mà quan trọng hơn là sự trưởng thành vượt bậc về nhận thức chính trị và tư tưởng nhân sinh. Sống và làm việc trong môi trường công nhân nghèo Chợ Quán, tận mắt chứng kiến cảnh đồng bào mình bị áp bức, đòn bọt, cảnh những người lao động bị bóc lột sức lao động cật lực nhưng vẫn sống trong cảnh lầm than, ngọn lửa uất hận trong lòng anh Trỗi ngày càng bùng cháy. Anh nhận ra rằng: Sự phát triển của một cá nhân không thể tách rời khỏi vận mệnh của dân tộc; một người không thể có hạnh phúc trọn vẹn khi đất nước vẫn còn bóng cờ xâm lược và người dân vẫn phải chịu cảnh nô dịch.
Từ nhận thức đúng đắn đó, Nguyễn Văn Trỗi tích cực tham gia vào các phong trào đấu tranh của công nhân. Anh tham gia các cuộc đình công đòi tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc, chống sa thải công nhân. Trong các hoạt động này, anh tỏ ra là một thanh niên nhanh nhạy, gan góc, có khả năng vận động và truyền cảm hứng cho đồng nghiệp. Nhờ sự trưởng thành vượt bậc về bản lĩnh và tinh thần giác ngộ cách mạng, năm 1963, Nguyễn Văn Trỗi vinh dự được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam và được tuyển chọn vào Biệt động Sài Gòn (thuộc Quân khu Sài Gòn - Gia Định). Đây là bước ngoặt vĩ đại nhất trong hành trình phát triển bản thân của anh, chuyển biến anh từ một thanh niên yêu nước tự phát trở thành một chiến sĩ cách mạng tự giác, có lý tưởng rõ ràng và được tổ chức rèn luyện.
Trở thành chiến sĩ biệt động nội đô, anh Trỗi phải sống một cuộc sống hai mặt vô cùng căng thẳng và nguy hiểm. Ban ngày, anh vẫn là anh thợ điện hiền lành, cần cù tại Nhà máy điện Chợ Quán, hòa nhã với đồng nghiệp, chấp hành quy định nhà máy. Nhưng đêm đến, anh là một chiến sĩ quả cảm, thông minh, sẵn sàng nhận những nhiệm vụ vô cùng hiểm hóc. Sự kết hợp giữa tay nghề điện giỏi và bản lĩnh cách mạng đã giúp anh hoàn thành xuất sắc nhiều nhiệm vụ được giao như điều tra địa hình, vận chuyển tài liệu, chuẩn bị vũ khí cho các trận đánh vào lòng địch.
Tháng 4/1964, Nguyễn Văn Trỗi lập gia đình với chị Phan Thị Quyên, một cô gái nết na, dịu dàng. Cuộc sống hạnh phúc gia đình vừa mới bắt đầu mở ra với biết bao hoài bão, ước mơ tuổi trẻ. Anh Trỗi rất yêu vợ và luôn ao ước về một tương lai tươi sáng, nơi vợ chồng được sống bình yên trong một đất nước độc lập, tự do. Nhưng gạt qua một bên những hạnh phúc riêng tư êm đềm, khi tổ chức giao nhiệm vụ đặc biệt tiêu diệt đoàn đại biểu quân sự cấp cao của Mỹ do Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu sang Sài Gòn khảo sát chiến trường, anh Trỗi đã xung phong nhận nhiệm vụ không chút ngần ngại.
Để chuẩn bị cho trận đánh này, anh Trỗi đã thể hiện sự tỉ mỉ, cẩn trọng và sáng tạo của một người thợ lành nghề. Anh đã nhiều lần trực tiếp ra cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi) để quan sát địa hình, đo đạc dòng chảy, tính toán thời gian xe chạy và nghiên cứu cách đặt mìn sao cho đạt hiệu quả cao nhất mà vẫn bảo đảm an toàn cho nhân dân xung quanh. Mọi kế hoạch được anh xây dựng cặn kẽ, chính xác đến từng chi tiết. Tuy nhiên, do có kẻ phản bội khai báo, ngày 9/5/1964, khi đang chuẩn bị gài quả mìn 8kg dưới chân cầu Công Lý, Nguyễn Văn Trỗi đã bị địch phục kích và bắt giữ.
Khi rơi vào tay kẻ thù, hành trình phát triển bản thân của Nguyễn Văn Trỗi bước vào giai đoạn thử thách nghiệt ngã và oanh liệt nhất: Thử thách của bản lĩnh, lòng trung thành và khí tiết người chiến sĩ cách mạng. Kẻ thù dùng mọi thủ đoạn từ dụ dỗ, mua chuộc, hứa hẹn tiền tài, nhà cửa, đưa đi nước ngoài đến những trận đòn tra tấn dã man nhất để khuất phục anh. Chúng dùng điện giật, gậy gộc, kìm kẹp, dội nước xà phòng vào bụng rồi giẫm lên... nhưng tất cả những ngón đòn tàn bạo đó đều bó tay trước tinh thần thép của người thanh niên 24 tuổi. Anh kiên quyết không khai báo một lời, nhận hết trách nhiệm về mình để bảo vệ tổ chức và đồng đội.
Không thể khuất phục được anh, chính quyền Mỹ - Ngụy đã đưa Nguyễn Văn Trỗi ra tòa án quân sự kết án tử hình nhằm đe dọa phong trào đấu tranh của nhân dân Sài Gòn. Tin tức về bản án tử hình dành cho người thanh niên Nguyễn Văn Trỗi đã chấn động dư luận thế giới. Tại Venezuela, lực lượng du kích Nguyễn Văn Trỗi đã bắt sống một sĩ quan Không quân Mỹ tên là Michael Smolen để đòi đổi lấy tự do cho anh Trỗi. Hành động này buộc chính quyền Mỹ - Ngụy phải tuyên bố hoãn thi hành án tử hình đối với anh. Nhưng ngay sau khi viên sĩ quan Mỹ được thả, địch đã lật lọng, vội vã đưa anh Trỗi ra xử bắn để phi tang.
Sáng ngày 15/10/1964, tại khám chí Hòa, trước họng súng của toán lính giặc, Nguyễn Văn Trỗi đã sống những phút giây rực rỡ nhất của đời mình. Anh từ chối rửa tội vì khẳng định mình không có tội, tội lỗi thuộc về kẻ xâm lược. Anh từ chối bịt mắt, giật phắt dải băng đen ra và đàng đàng tuyên bố: "Không! Phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi!". Anh hướng về phía các phóng viên báo chí nước ngoài, vạch trần bản chất xâm lược của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai.
Khi tiếng súng vang lên, trước khi gục xuống, người thanh niên ấy đã hô vang những lời thề huyết chiến rúng động không gian: "Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo đế quốc Mỹ! Đả đảo Nguyễn Khánh! Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!". Ba lần hô tên Bác Hồ trước lúc hy sinh không chỉ là tiếng hô của lòng kính yêu lãnh tụ, mà đó là lời khẳng định chiến thắng của lý tưởng, của niềm tin sắt đá vào ngày hội thống nhất đất nước.
Nguyễn Văn Trỗi ngã xuống khi mới 24 tuổi xuân, nhưng hành trình phát triển bản thân của anh đã đạt đến đỉnh cao của nhân cách người Việt Nam hiện đại. Từ một cậu bé nông thôn nghèo thất học, anh đã tự vươn lên trở thành người thợ điện lành nghề, từ một người lao động lam lũ trở thành chiến sĩ biệt động anh hùng, và từ một tù nhân bị kết án tử hình trở thành biểu tượng bất tử của khí tiết cách mạng. Sự hy sinh của anh đã châm ngòi cho hàng triệu ngọn lửa yêu nước bùng cháy, biến thành sức mạnh cuồng phong quật ngã kẻ thù.
Cuộc đời và hành trình trưởng thành của Nguyễn Văn Trỗi là bài học vô giá cho các thế hệ trẻ về tinh thần tự học, chí tiến thủ, bản lĩnh vượt khó và sống có lý tưởng cao đẹp. Anh đã chứng minh rằng giá trị của một con người không đo bằng số năm họ sống, mà đo bằng những gì họ đã cống hiến và để lại cho cuộc đời. Khí phách "Hãy nhớ lấy lời tôi" của Nguyễn Văn Trỗi mãi mãi là ngọn đuốc soi đường, nhắc nhở thế hệ hôm nay và mai sau về cái giá của độc lập, tự do và trách nhiệm sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh của những người anh hùng dân tộc.



