Nguyễn Văn Trỗi - một tấm gương cách mạng sáng ngời
Lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đã có rất nhiều tấm gương anh dũng hy sinh. Các anh không một phút đắn đo khi lấy máu, xương của mình đổi lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc, bảo vệ từng tấc đất, giữ vẹn lãnh thổ, biên cương mà ông cha đã dày công gây dựng, bồi đắp và gìn giữ qua mấy nghìn năm lịch sử trong điều kiện chiến tranh nối tiếp chiến tranh. Nguyễn Văn Trỗi là một trong số những tấm gương ti
Người cộng sản kiên trung
Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1-2-1940 tại làng Thanh Quýt, nay là xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Năm 1956, Nguyễn Văn Trỗi một mình vào Sài Gòn sinh sống. Ở đây, anh vừa làm thuê để kiếm sống, vừa học nghề điện, sau đó trở thành công nhân Nhà máy điện Chợ Quán.
Năm 1963, Nguyễn Văn Trỗi gia nhập trở thành một chiến sỹ biệt động Sài Gòn. Bước vào đời hoạt động cách mạng, anh luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Có lần anh đã ném lựu đạn làm chết và bị thương một số tên địch.
Biết tin phái đoàn quân sự cấp cao của Mỹ do Mắc Namara - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu sẽ đến Sài Gòn thị sát chiến trường vào tháng 5-1964, lực lượng của ta liền vạch kế hoạch tiêu diệt Mắc Namara. Với tình yêu quê hương và lòng căm thù quân xâm lược sâu sắc nên mặc dù mới cưới vợ được hơn 10 ngày, Nguyễn Văn Trỗi vẫn xung phong nhận nhiệm vụ, cùng đồng đội tiến hành cài mìn ở cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi, Thành phố Hồ Chí Minh) - nơi dự đoán là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mác Namara cùng phái đoàn Mỹ từ sân bay Tân Sơn Nhất về trung tâm thành phố Sài Gòn sẽ đi qua. Tuy nhiên, khi Nguyễn Văn Trỗi cùng đồng đội mới đặt được quả mìn nặng 8 kg ở cạnh cầu Công Lý, đang chuẩn bị nốt một số công việc còn lại thì không may việc bị bại lộ, anh bị địch bắt.
Để đảm bảo an toàn hoạt động và tính mạng cho đồng đội, Nguyễn Văn Trỗi kiên quyết không khai mà còn nhận trách nhiệm về mình. Sau một thời gian giam giữ, tra tấn, kẻ thù đưa Nguyễn Văn Trỗi ra xử tại tòa, rồi kết án tử hình.
Tấm gương hy sinh cách mạng sáng ngời
Không chỉ hành động bất chấp hy sinh tính mạng trong vụ cài mìn ở cầu Công Lý năm 1964, Nguyễn Văn Trỗi còn thể hiện ý chí và niềm tin sắt đá đến giây phút bị xử tử. Anh không chấp nhận rửa tội mà còn khẳng định chính bọn Mỹ, ngụy mới là kẻ có tội, là thủ phạm gây ra cảnh xóm làng tan nát, cảnh lầm than chết chóc, cảnh con mất cha, vợ mất chồng. Thời gian ở trong tù, đã chịu bao nhiêu cực hình tra tấn của địch, nhưng anh vẫn luôn luôn giữ vững khí tiết của người cộng sản, bảo vệ cơ sở cách mạng và tìm cách vượt ngục để được tiếp tục chiến đấu. Nhiều lần anh đã nói thẳng vào mặt kẻ thù: “Còn giặc Mỹ, không ai có hạnh phúc cả”. Câu nói ấy không chỉ gây xúc động trong tuổi trẻ và nhân dân ta mà cả tuổi trẻ và nhân dân tiến bộ trên thế giới.
Tuy biết trước sẽ bị tử hình nhưng anh vẫn lạc quan, yêu đời. Tại pháp trường, Nguyễn Văn Trỗi rất bình thản, tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Khi địch bịt mắt anh, anh giật tấm băng đen rồi nói: “Không, phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi”.
Giây phút cuối cùng, anh dõng dạc hô to:
“Hãy nhớ lấy lời tôi
Đả đảo đế quốc Mỹ
Đả đảo Nguyễn Khánh
Hồ Chí Minh muôn năm!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Việt Nam muôn năm!”
Ca ngợi tinh thần hy sinh dũng cảm của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng. Chí khí lẫm liệt của anh hùng Trỗi là một tấm gương hy sinh cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước, nhất là cho các cháu thanh niên học tập”.
Với những hy sinh, cống hiến cho quê hương, đất nước, năm 1964, Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Nguyễn Văn Trỗi danh hiệu Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng và Huân chương Thành đồng hạng nhất. Năm 1995, Đảng và Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho anh.
Noi gương anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi
Sự hy sinh anh dũng của Nguyễn Văn Trỗi là một tấm gương sáng cho hàng triệu trái tim người con yêu nước Việt Nam và bạn bè trên thế giới yêu chuộng hòa bình, bênh vực công lý; góp phần cổ vũ, tăng thêm nghị lực đấu tranh của các anh em đang bị tù đày; khơi dậy ở lớp thanh niên ngày ấy ý chí chiến đấu gan dạ hơn, sôi sục hơn. Lời hô của anh tại pháp trường như tiếng kèn xung trận, thôi thúc, khích lệ cả nước hăng hái xung phong sẵn sàng đánh giặc. Học tập gương chiến đấu của Nguyễn Văn Trỗi, khắp cả nước dấy lên phong trào thi đua, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ cứu nước. Lớp lớp thanh niên trên mọi miền đất nước noi gương anh, đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, xông pha ra mặt trận chiến đấu, góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Hình tượng Nguyễn Văn Trỗi đã trở thành cảm hứng, nhân vật chính trong nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật, gây xúc động lòng người. Đáng kể như bài thơ “Hãy nhớ lấy lời tôi” của Tố Hữu, bài hát “Lời anh vọng mãi ngàn năm” của Vũ Thanh, phim tài liệu “Anh Nguyễn Văn Trỗi sống mãi” và phim truyện “Nguyễn Văn Trỗi” của đạo diễn Bùi Đình Hạc. Đặc biệt là bút ký “Sống như anh” của nhà báo Thái Duy (Trần Đình Vân) đã trở thành cuốn sách “gối đầu giường” của biết bao người, được bạn đọc bình chọn là một trong ba cuốn sách có nội dung hay nhất năm 2002 và gần đây được xuất bản sang tiếng Tây Ban Nha…
Người con ưu tú của mảnh đất Quảng Nam đã đi xa cách đây nửa thế kỷ nhưng tấm gương yêu nước của anh luôn tỏa sáng để thế hệ trẻ hôm nay học tập và noi theo.
Đặc biệt, trên mảnh đất Sài Gòn - nơi anh đã anh dũng hy sinh, các thế hệ đoàn viên, thanh niên thi đua học tập, lao động, sáng tạo, đóng góp sức mình cho sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Nhiều người trong số họ đã được trao tặng giải thưởng Nguyễn Văn Trỗi - giải thưởng nhằm tưởng nhớ anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi.
Còn trên quê hương anh Trỗi, các thanh niên Điện Bàn hôm nay đang ra sức học tập và lao động để cống hiến sức trẻ của mình góp phần phát triển quê hương. Anh Nguyễn Ngọc Tuấn, Bí thư Huyện đoàn Điện Bàn cho biết: Noi gương anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi, trong những năm qua tuổi trẻ trong huyện luôn đoàn kết một lòng, sống xứng đáng với truyền thống cách mạng vẻ vang của quê hương. Huyện Đoàn thường xuyên định hướng cho thanh niên sống đẹp, sống có ích; có sự lựa chọn đúng đắn trong lập thân, lập nghiệp cũng như thể hiện vai trò trách nhiệm của thanh niên trong quá trình xây dựng và phát triển địa phương.
15 Kim Đồng – Anh hùng liệt sỹ tuổi thiếu niên của quê hương Cao Bằng
Triệu Thanh Dung
Tỉnh đoàn Cao Bằng
Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, sinh năm 1929 tại làng Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Anh sinh ra trong một gia đình yêu nước, có anh trai, chị gái, anh rể đều tham gia hoạt động cách mạng. Cha anh bị bắt đi phu từ khi anh còn nhỏ và không rõ tung tích, anh trai là Nông Văn Dấu (bí danh Phục Quốc) là đội viên của Đội Giải phóng quân, chiến đấu và hy sinh tại chợ đồn Bắc Kạn. Sống trong cảnh nước mất, nhà tan, gia đình, hàng xóm chịu nhiều áp bức, ngay từ nhỏ Kim Đồng đã có lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc. Với tư chất thông minh, nhanh nhẹn cùng lòng dũng cảm, Kim Đồng được chọn là đội trưởng đầu tiên của Hội Nhi đồng cứu quốc (tiền thân của Đội TNTP Hồ Chí Minh). Anh đã anh dũng hy sinh khi đang làm nhiệm vụ và trở thành anh hùng liệt sĩ tuổi thiếu niên của quê hương cội nguồn cách mạng Cao Bằng.
Năm 1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái quốc trở về bản Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng lãnh đạo phong trào cách mạng. Tại đây, Người đã viết rất nhiều tác phẩm để tuyên truyền, giác ngộ cách mạng cho nhân dân như Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Nông dân cứu quốc, đặc biệt là tác phẩm Nhi đồng cứu quốc nhằm tập hợp các em nhỏ sớm có lòng yêu nước tham gia hoạt động cách mạng. Người giao nhiệm vụ cho anh Đức Thanh (Tên thật là Đàm Minh Viễn, anh được Bác Hồ trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng thành cán bộ cách mạng) thành lập tổ chức Hội Nhi đồng cứu quốc. Anh đã trực tiếp soạn thảo Điều lệ Hội Nhi đồng cứu quốc trình Bác cho ý kiến, chỉnh sửa và in ngay trong hang Cốc Bó. Đồng thời anh đã tuyên truyền, giác ngộ được những thiếu niên tiêu biểu của làng Nà Mạ tham gia Đội. Ngày 15/5/1941, dưới sự chỉ đạo của anh Đức Thanh, Hội Nhi đồng cứu quốc được thành lập tại Pò Đoi, dưới chân núi Thong Mạ gồm có 5 đội viên: Nông Văn Dền – Bí danh Kim Đồng, Nông Văn Thàn – Bí danh Cao Sơn, Lí Thị Xậu – Bí danh Thanh Thủy, Lí Thị Nì – Bí danh Thủy Tiên, Lý Văn Tinh – Bí danh Thanh Minh. Kim Đồng được bầu làm Đội trưởng.
Nhiệm vụ của Hội là làm thông tin liên lạc, đưa đón cán bộ, bảo vệ các cuộc họp bí mật. Sau khi Hội được thành lập các đội viên đã được học tập và rèn luyện để trực tiếp làm công tác liên lạc cho cách mạng, góp một phần công sức trong công cuộc giải phóng quê hương. Tháng 8/1942, Kim Đồng đã vinh dự được gặp Bác Hồ tại hang Nộc Én và đưa Bác trở về Pác Bó an toàn.
Ngày 14/2/1943 Kim Đồng được giao nhiệm vụ đưa tài liệu mật về Đào Ngạn và đưa một cán bộ cấp cao trở về Pác Bó ngay trong đêm. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Kim Đồng trở về nhà. Đi gần đến đầu làng bỗng rộ lên tiếng chó sủa dai dẳng, Kim Đồng sinh nghi. Anh nhớ đêm nay có cuộc họp của tổng bộ Việt Minh, anh nhanh chóng chạy về Nà Mạ báo tin cho các đội viên sau đó chạy nhanh theo hướng bờ suối, thu hút sự chú ý, đánh lạc hướng quân thù. Khi anh chạy đến đầu Phai Mục, một tiếng súng động trời vang lên, Kim Đồng ngã xuống. Đó cũng là tiếng súng báo hiệu cho các cán bộ rút lui an toàn. Anh Kim Đồng hy sinh lúc 5h sáng ngày 15/2/1943 khi vừa tròn 14 tuổi.
Năm 1997, Kim Đồng được chủ tịch nước Lê Đức Anh truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Sự hy sinh anh dũng của Kim Đồng đã góp phần tô thắm những trang sử vẻ vang của Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh và lớp lớp thiếu nhi Việt Nam. Anh xứng đáng là người đội trưởng đầu tiên của Đội, là tấm gương sáng ngời để các thế hệ thiếu niên, nhi đồng cả nước học tập, noi theo.



