Bài viết

Nguyễn Văn Trỗi - một tấm gương cách mạng sáng ngời (3)

Lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đã có rất nhiều tấm gương anh dũng hy sinh. Các anh không một phút đắn đo khi lấy máu, xương của mình đổi lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc, bảo vệ từng tấc đất, giữ vẹn lãnh thổ, biên cương mà ông cha đã dày công gây dựng, bồi đắp và gìn giữ qua mấy nghìn năm lịch sử trong điều kiện chiến tranh nối tiếp chiến tranh. Nguyễn Văn Trỗi là một trong số những tấm gương ti

Hưng Yên14/12/2025Ngô Trọng Bình4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Người cộng sản kiên trung

Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1-2-1940 tại làng Thanh Quýt, nay là xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Năm 1956, Nguyễn Văn Trỗi một mình vào Sài Gòn sinh sống. Ở đây, anh vừa làm thuê để kiếm sống, vừa học nghề điện, sau đó trở thành công nhân Nhà máy điện Chợ Quán.

Năm 1963, Nguyễn Văn Trỗi gia nhập trở thành một chiến sỹ biệt động Sài Gòn. Bước vào đời hoạt động cách mạng, anh luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Có lần anh đã ném lựu đạn làm chết và bị thương một số tên địch.

Biết tin phái đoàn quân sự cấp cao của Mỹ do Mắc Namara - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu sẽ đến Sài Gòn thị sát chiến trường vào tháng 5-1964, lực lượng của ta liền vạch kế hoạch tiêu diệt Mắc Namara. Với tình yêu quê hương và lòng căm thù quân xâm lược sâu sắc nên mặc dù mới cưới vợ được hơn 10 ngày, Nguyễn Văn Trỗi vẫn xung phong nhận nhiệm vụ, cùng đồng đội tiến hành cài mìn ở cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi, Thành phố Hồ Chí Minh) - nơi dự đoán là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mác Namara cùng phái đoàn Mỹ từ sân bay Tân Sơn Nhất về trung tâm thành phố Sài Gòn sẽ đi qua. Tuy nhiên, khi Nguyễn Văn Trỗi cùng đồng đội mới đặt được quả mìn nặng 8 kg ở cạnh cầu Công Lý, đang chuẩn bị nốt một số công việc còn lại thì không may việc bị bại lộ, anh bị địch bắt.

Để đảm bảo an toàn hoạt động và tính mạng cho đồng đội, Nguyễn Văn Trỗi kiên quyết không khai mà còn nhận trách nhiệm về mình. Sau một thời gian giam giữ, tra tấn, kẻ thù đưa Nguyễn Văn Trỗi ra xử tại tòa, rồi kết án tử hình.

Tấm gương hy sinh cách mạng sáng ngời

Không chỉ hành động bất chấp hy sinh tính mạng trong vụ cài mìn ở cầu Công Lý năm 1964, Nguyễn Văn Trỗi còn thể hiện ý chí và niềm tin sắt đá đến giây phút bị xử tử. Anh không chấp nhận rửa tội mà còn khẳng định chính bọn Mỹ, ngụy mới là kẻ có tội, là thủ phạm gây ra cảnh xóm làng tan nát, cảnh lầm than chết chóc, cảnh con mất cha, vợ mất chồng. Thời gian ở trong tù, đã chịu bao nhiêu cực hình tra tấn của địch, nhưng anh vẫn luôn luôn giữ vững khí tiết của người cộng sản, bảo vệ cơ sở cách mạng và tìm cách vượt ngục để được tiếp tục chiến đấu. Nhiều lần anh đã nói thẳng vào mặt kẻ thù: “Còn giặc Mỹ, không ai có hạnh phúc cả”. Câu nói ấy không chỉ gây xúc động trong tuổi trẻ và nhân dân ta mà cả tuổi trẻ và nhân dân tiến bộ trên thế giới.

Tuy biết trước sẽ bị tử hình nhưng anh vẫn lạc quan, yêu đời. Tại pháp trường, Nguyễn Văn Trỗi rất bình thản, tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Khi địch bịt mắt anh, anh giật tấm băng đen rồi nói: “Không, phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi”.

Giây phút cuối cùng, anh dõng dạc hô to:

“Hãy nhớ lấy lời tôi
Đả đảo đế quốc Mỹ
Đả đảo Nguyễn Khánh
Hồ Chí Minh muôn năm!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Việt Nam muôn năm!”


Ca ngợi tinh thần hy sinh dũng cảm của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng. Chí khí lẫm liệt của anh hùng Trỗi là một tấm gương hy sinh cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước, nhất là cho các cháu thanh niên học tập”.

Với những hy sinh, cống hiến cho quê hương, đất nước, năm 1964, Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Nguyễn Văn Trỗi danh hiệu Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng và Huân chương Thành đồng hạng nhất. Năm 1995, Đảng và Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho anh.

Noi gương anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi

Sự hy sinh anh dũng của Nguyễn Văn Trỗi là một tấm gương sáng cho hàng triệu trái tim người con yêu nước Việt Nam và bạn bè trên thế giới yêu chuộng hòa bình, bênh vực công lý; góp phần cổ vũ, tăng thêm nghị lực đấu tranh của các anh em đang bị tù đày; khơi dậy ở lớp thanh niên ngày ấy ý chí chiến đấu gan dạ hơn, sôi sục hơn. Lời hô của anh tại pháp trường như tiếng kèn xung trận, thôi thúc, khích lệ cả nước hăng hái xung phong sẵn sàng đánh giặc. Học tập gương chiến đấu của Nguyễn Văn Trỗi, khắp cả nước dấy lên phong trào thi đua, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ cứu nước. Lớp lớp thanh niên trên mọi miền đất nước noi gương anh, đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, xông pha ra mặt trận chiến đấu, góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Hình tượng Nguyễn Văn Trỗi đã trở thành cảm hứng, nhân vật chính trong nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật, gây xúc động lòng người. Đáng kể như bài thơ “Hãy nhớ lấy lời tôi” của Tố Hữu, bài hát “Lời anh vọng mãi ngàn năm” của Vũ Thanh, phim tài liệu “Anh Nguyễn Văn Trỗi sống mãi” và phim truyện “Nguyễn Văn Trỗi” của đạo diễn Bùi Đình Hạc. Đặc biệt là bút ký “Sống như anh” của nhà báo Thái Duy (Trần Đình Vân) đã trở thành cuốn sách “gối đầu giường” của biết bao người, được bạn đọc bình chọn là một trong ba cuốn sách có nội dung hay nhất năm 2002 và gần đây được xuất bản sang tiếng Tây Ban Nha…

Người con ưu tú của mảnh đất Quảng Nam đã đi xa cách đây nửa thế kỷ nhưng tấm gương yêu nước của anh luôn tỏa sáng để thế hệ trẻ hôm nay học tập và noi theo.

Đặc biệt, trên mảnh đất Sài Gòn - nơi anh đã anh dũng hy sinh, các thế hệ đoàn viên, thanh niên thi đua học tập, lao động, sáng tạo, đóng góp sức mình cho sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Nhiều người trong số họ đã được trao tặng giải thưởng Nguyễn Văn Trỗi - giải thưởng nhằm tưởng nhớ anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi.

Còn trên quê hương anh Trỗi, các thanh niên Điện Bàn hôm nay đang ra sức học tập và lao động để cống hiến sức trẻ của mình góp phần phát triển quê hương. Anh Nguyễn Ngọc Tuấn, Bí thư Huyện đoàn Điện Bàn cho biết: Noi gương anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi, trong những năm qua tuổi trẻ trong huyện luôn đoàn kết một lòng, sống xứng đáng với truyền thống cách mạng vẻ vang của quê hương. Huyện Đoàn thường xuyên định hướng cho thanh niên sống đẹp, sống có ích; có sự lựa chọn đúng đắn trong lập thân, lập nghiệp cũng như thể hiện vai trò trách nhiệm của thanh niên trong quá trình xây dựng và phát triển địa phương.

"Có cái chết hóa thành bất tử"

Hữu Minh

Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi 60 năm qua và mãi mãi đã hóa thân vào quê hương, xứ sở qua tên đường, tên trường và tấm gương “Sống như anh”…

Ký ức một thời chưa xa

Với thế hệ chúng tôi, đó là những năm tháng đầu đời rất đáng nhớ - Những năm sáu mươi của thế kỷ XX.

Miền Nam sục sôi căm hờn tội ác của Mỹ Diệm, Mỹ Khánh. Và, đang đồng khởi vùng lên với ý chí “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Những hào khí “Vùng lên nhân dân miền Nam anh hùng/ vùng lên xông pha vượt qua bão bùng/ Thề cứu lấy nước nhà, thề hy sinh đến cùng/ Cầm gươm, ôm súng xông tới"… Chiến thắng nối tiếp chiến thắng. Những Đồng khởi ở Bến Tre; Bình Giã; Chiến thắng lớn đánh bại Chiến tranh đặc biệt làm nức lòng đồng bào hai miền Nam - Bắc. Thất bại trên chiến trường miền Nam, ngày 5/8/1964, đế quốc Mỹ dựng lên sự kiện vịnh Bắc Bộ, cho không quân điên cuồng đánh phá miền Bắc hòng ngăn chặn ý chí thống nhất hai miền của chúng ta.

Rồi một sự kiện chấn động mùa Thu năm đó. Mỹ lật lọng xử bắn biệt động Sài Gòn Nguyễn Văn Trỗi vào 9h30 phút ngày 15/10/1964. Lúc bấy giờ để có tin tức khó lắm. Tất cả chỉ trông vào thông tin của Đài Tiếng nói Việt Nam mà người dân thường đồng bằng Bắc Bộ chúng tôi nghe qua chiếc đài bán dẫn… Nhưng qua đó, chúng tôi thấy dấy lên một làn sóng phẫn nộ, căm thù giặc chưa từng có trong dân ta, trong loài người tiến bộ trên thế giới. Qua đài, nhiều lúc là tiếng, giọng địa phương nên có bản tin nêu anh Nguyễn Văn Trôi, có bài thơ gọi anh Nguyễn Văn Trổi… rồi sau đều là anh Nguyễn Văn Trỗi…

Anh thợ điện Nguyễn Văn Trỗi sinh ra và lớn lên tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Là con thứ ba trong một gia đình nông dân nghèo. Giặc Pháp đã giết hại mẹ anh khi anh mới ba tuổi, anh sống nhờ bác và anh chị họ. Năm 15,16 tuổi, anh vào Sài Gòn làm việc kiếm sống. Anh từng đạp xích lô, sau đó xin học nghề thợ điện và nhanh chóng trở thành một thợ điện giỏi. Anh làm việc tại xưởng Ngọc Anh, với lòng yêu nước và căm thù giặc sâu sắc, anh được Đảng giác ngộ và được tổ chức vào Đoàn Thanh niên, anh trở thành chiến sĩ biệt động 65, thuộc Đại đội quyết tử cánh Tây Nam Sài Gòn, quân khu Sài Gòn - Gia Định.

Năm 1964, anh được tập huấn cách đánh biệt động nội thành ở căn cứ Rừng Thơm, Đức Hòa (Long An). Anh quen chị Phan Thị Quyên qua một người bạn của chị cùng làm ở hãng Bông Gòn Bạch Tuyết, hai người yêu nhau hơn một năm rồi tổ chức đám cưới ngày 21/4/1964. Ngày 2/5/1964, anh nhận nhiệm vụ đặt mìn ở cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi), để ám sát phái đoàn quân sự chính trị cao cấp của Chính phủ Mỹ do Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu.

Giữa lúc đang tiến hành nhiệm vụ thì anh không may bị địch bắt vào lúc 22 giờ ngày 9/5/1964. Trong lao tù, mặc dù chịu rất nhiều đòn tra tấn, cực hình dã man cùng với những cám dỗ ngon ngọt của kẻ thù nhưng anh Nguyễn Văn Trỗi vẫn một mực không khai báo, một lòng trung thành với Đảng, với tổ chức và lý tưởng mà anh đã chọn. Để cứu anh, một tổ chức du kích ở Thủ đô Ca ra cát của Venezuela đòi trao đổi anh với Đại tá Không quân Mỹ là Michael Smolen vừa bị tổ chức du kích này bắt cóc, và tuyên bố “Nếu ở Việt Nam xử bắn Nguyễn Văn Trỗi thì ở Venezuela một giờ sau họ sẽ xử bắn Đại tá Smolen”.

Tuy nhiên, khi Michael Smolen vừa được tự do, Tòa án quân sự của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã xử bắn anh Nguyễn Văn Trỗi lúc 9 giờ 45 phút ngày 15/10/1964 tại vườn rau nhà lao Chí Hòa - Sài Gòn. Khi ra pháp trường anh rất bình thản, trước đông đảo các nhà báo trong và ngoài nước, anh đã vạch trần tội ác của đế quốc Mỹ. Khi địch bịt mắt, anh liền giật ra và nói: “Không, phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi”. Trước khi chết anh còn hô vang “Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo đế quốc Mỹ! Đả đảo Nguyễn Khánh! Việt Nam muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”.

Câu “Hồ Chí Minh muôn năm!’” được anh hô đến ba lần. Tinh thần chiến đấu và hy sinh anh dũng của anh Trỗi tại pháp trường đã trở thành biểu tượng của thế hệ thanh niên Việt Nam thời kỳ chống Mỹ. Bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta đã ghi trên tấm ảnh của anh Trỗi: “Vì Tổ quốc, vì nhân dân, Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng. Chí khí lẫm liệt của Anh hùng Trỗi là một tấm gương cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước, nhất là cho các cháu thanh niên học tập”.

“Có những phút làm nên lịch sử

Có cái chết hóa thành bất tử

Có những lời hơn mọi bài ca

Có con người như chân lý sinh ra…”

(Tố Hữu)

Tấm gương hy sinh anh dũng của anh Trỗi còn được nhân dân thế giới biết đến và trở thành hiệu ứng rộng lớn mà 60 năm rồi tôi còn nhớ hào khí những năm tháng đó…

Câu chuyện của nhà văn Trần Đình Vân về cuốn “Sống như anh”

Trong tác nghiệp báo chí, tôi cũng đã vài lần (2 lần đến chơi nhà ông ở số 8, phố Lý Thường Kiệt và một lần dự tọa đàm tại Bảo tàng Báo chí Việt Nam) gặp nhà báo Thái Duy - Trần Đình Vân, tác giả “Sống như anh” một thời vang tiếng - một câu chuyện cảm động về chủ nghĩa Anh hùng cách mạng, nhưng ít khi tôi được trò chuyện với nhà báo gạo cội này...

… Ngày 5/7/2019, chị Phan Thị Quyên, vợ Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi mất, lại tròn 55 năm anh Trỗi hy sinh, tôi đến thăm nhà báo Thái Duy - Trần Đình Vân (tên thật Trần Duy Tấn), người đã giúp cho chúng ta hiểu thêm về gương hy sinh, phẩm chất cao đẹp của tuổi trẻ qua văn học, báo chí. Tác phẩm "Sống như anh" là cẩm nang gối đầu giường. Cũng như "Đất nước đứng lên", "Hòn Đất", "Một chuyện chép ở bệnh viện", "Gia đình má Bẩy", "Người mẹ cầm súng"... "Sống như anh" như lời non sông thúc giục lớp lớp người ra trận, đánh đuổi quân thù, giải phóng quê hương.

Ông tâm sự: Năm 1964, ông là phóng viên của Báo Giải Phóng, Cơ quan của Ủy ban Mặt trận Giải phóng miền Nam, Tòa soạn đóng ở Tây Ninh. Sau khi anh Trỗi hy sinh, báo chí chế độ Sài Gòn đưa tin dồn dập về sự kiện này. Lúc đó, Trần Đình Vân đang công tác ở Long An, chỉ cách Sài Gòn 30 cây số. Qua đó, chúng tôi biết sâu hơn về trận đánh không thành tại cầu Công Lý.

Là nhà báo chiến trường, khi nghe câu chuyện, ông và các đồng nghiệp đều nghĩ sẽ phải làm việc gì đó để tôn vinh sự quả cảm của anh Trỗi. Tiếp đó, Trần Đình Vân được biết chị Phan Thị Quyên, vợ Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã được các chiến sĩ biệt động Sài Gòn đưa về căn cứ của Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam và dự Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua miền Nam, tiếp cận, ban đầu tôi viết bài báo có tiêu đề: "Những lần gặp gỡ cuối cùng của chị Quyên và anh Trỗi", đăng trên Báo Giải Phóng. Nhưng sau đó, nhà báo Thái Duy nhận được chỉ thị cần phải có quyển sách về anh Trỗi, nên ông quyết định đi Củ Chi gặp các đồng chí cùng hoạt động, cùng ở tù với anh Trỗi để có thêm tư liệu... Viết xong cuốn sách có tên "Những lần gặp gỡ cuối cùng", cơ quan nhờ một phóng viên Liên Xô chuyển ra Hà Nội qua đường hàng không Cam Pu Chia...

Nhà báo Thái Duy nhớ lại: Sau này tôi mới biết các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư rất quan tâm đến cuốn sách. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đặt lại tên cho cuốn sách là "Sống như anh". Bác Hồ viết lời tựa cuốn sách. Chỉ khoảng 1 tháng sau khi gửi, anh em chúng tôi ở chiến trường đã được nghe đọc "Sống như anh" qua làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam...

Năm 1966, nhà báo Thái Duy được điều động ra Bắc công tác. Với chị Quyên, nhà báo còn gặp vài lần. Một ngày sau giải phóng, ngày 1/5/1975, nhà báo, nhà văn Thái Duy tìm đến và viếng mộ anh Trỗi tại quê ngoại của anh...

Theo quy luật, ngót trăm tuổi, nhà văn Thái Duy - Trần Đình Vân cũng đã trở thành người thiên cổ. Nhưng ông chính là người nêu cao tấm gương đạo đức và phong cách tận hiến của người làm báo, người làm văn nghệ cách mạng. Còn Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi 60 năm qua và mãi mãi đã hóa thân vào quê hương, xứ sở qua tên đường, tên trường và tấm gương “Sống như anh”…

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn