Nguyễn Văn Trỗi - Ngọn lửa tuổi trẻ bất diệt (1)
Tóm tắt cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của anh Nguyễn Văn Trỗi.
Vào những năm 1960, đất nước Việt Nam đang chìm trong khói lửa chiến tranh. Sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước bị chia cắt làm hai miền: miền Bắc theo chế độ xã hội chủ nghĩa, còn miền Nam nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn thân Mỹ. Đế quốc Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào nội bộ miền Nam, đưa quân đội và cố vấn sang đàn áp phong trào cách mạng, gây ra nhiều tội ác với nhân dân. Trong bối cảnh ấy, phong trào đấu tranh giải phóng miền Nam diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ. Chính từ trong khói lửa ấy, nhiều thanh niên ưu tú đã đứng lên chiến đấu, trong đó có Nguyễn Văn Trỗi – người thợ điện bình dị đã trở thành biểu tượng bất tử của lòng yêu nước và tinh thần anh dũng thời chống Mỹ.
Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1 tháng 2 năm 1940, trong một gia đình nông dân nghèo có truyền thống cách mạng tại làng Thanh Quýt, xã Ðiện Thắng, huyện Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Năm 1963, trong phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Sài Gòn chống xâm lược, anh được giác ngộ cách mạng và được kết nạp vào Ðoàn Thanh niên, trở thành một chiến sĩ trong tổ chức Biệt động thành, Ðại đội quyết tử cánh Tây Nam Sài Gòn.
Ở đất Sài Gòn, Nguyễn Văn Trỗi đã tìm được hai điều quý giá nhất đời mình: Đó là lòng yêu nước, là lý tưởng cách mạng, lý tưởng của một người cộng sản và một mối duyên tình tha thiết với người con gái dịu dàng Phan Thị Quyên. Mối duyên tình đó đã tiếp thêm sức mạnh để anh vượt qua mọi khó khăn trở ngại, hoàn thành sứ mệnh mà tổ chức giao cho. Chuyện tình ngọt ngào của anh chị đã dẫn đến một đám cưới của anh Trỗi và chị Quyên diễn ra với sự ủng hộ của hai bên gia đình. Họ chung sống trong một căn nhà nhỏ đơn sơ mà anh Trỗi góp tiền mua cùng bạn. Trong cuộc sống hôn nhân, anh Trỗi luôn thể hiện là người chồng tình cảm, ân cần; anh chăm sóc vợ từng chút một, luôn muốn vợ đáp lại bằng nụ cười, lời nói dịu dàng. Những lúc rảnh rỗi, anh thường chơi đàn cho chị nghe và lặng lẽ tiễn chị đi làm bằng ánh mắt trìu mến.
Phút giây hạnh phúc chưa được bao lâu thì vào năm 1964, anh được đưa ra căn cứ học chính trị và tập huấn cách đánh biệt động nội thành ở căn cứ Rừng Thơm, Ðức Hòa, Long An. Tại đây, anh gặp các đồng đội Ba Sơn, Tư Kiếm, Nguyễn Hữu Lời. Sau lớp học, bốn người được tổ chức thành một tổ hoạt động và được chỉ thị mục tiêu đánh. Ðó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Robert McNamara. Tháng 3/1964, sau khi thống nhất kế hoạch, cả 4 người rải ra trên đường Công Lý theo dõi đường đi nước bước của McNamara khi sang Sài Gòn. Mọi người rút ra quy luật chung là đoàn xe ra đón McNamara từ sân bay Tân Sơn Nhất vào trung tâm thành phố theo đường Công Lý. Ra đón Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ bao giờ cũng có đầy đủ các nhân vật cao cấp quân sự và dân sự Mỹ cùng chính quyền Sài Gòn.
Ngày 2/5/1964, Nguyễn Văn Trỗi nhận nhiệm vụ đặt mìn ở cầu Công Lý để ám sát phái đoàn quân sự chính trị cao cấp của chính phủ Mỹ do Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu. Tổ biệt động do anh Tư Kiếm cầm đầu được giao nhiệm vụ. Lúc đó, ba phương án tác chiến được Ban chỉ huy cấp trên nhanh chóng thông qua. Phương án một là thuê một căn nhà cạnh đường Công Lý, mìn định hướng đặt trong nhà, việc câu dây, bảo vệ trái mìn dễ dàng, thuận tiện hơn, không lo bị phát hiện. Phương án hai là chôn hai trái mìn gần đầu cầu Công Lý đón xe của McNamara qua cầu, vừa xuống dốc thoai thoải thì mìn nổ. Phương án ba, nếu McNamara không vào thành phố theo đường Công Lý thì tiếp tục theo dõi, đón đánh khi McNamara rời Sài Gòn.
Công việc đang được chuẩn bị thì tổ biệt động nhận thông báo rằng phái đoàn của McNamara sẽ tới Sài Gòn vào thứ hai, ngày 11/5/1964, tức là sớm hơn dự kiến hai tuần. Ngay lập tức, Tư Kiếm triệu tập gấp anh em trong tổ. Tuy nhiên khi này nhà vẫn chưa kịp thuê, vì vậy phương án hai được triển khai, tức là phục kích tại đầu cầu Công Lý.
Tư Kiếm họp anh em trong tổ bàn lại kế hoạch đưa mìn tới bãi rác gần cầu Công Lý. Khi đó, Ba Sơn kéo xe ba gác, trên chất gạch, cát, xi măng, trái mìn 8kg giấu trong thùng. Nguyễn Hữu Lời cầm tập sách đóng vai một học sinh lảng vảng ở cầu để báo hiệu cho Ba Sơn vào cầu lúc địch bớt chú ý tới người qua lại. Tư Kiếm thủ trong người một quả lựu đạn đi theo bảo vệ Ba Sơn. Còn Nguyễn Văn Trỗi chờ ở ngã tư Yên Ðỗ - Trương Minh Giảng (nay là Lý Chính Thắng – Trần Quốc Thảo), sẵn sàng đón Ba Sơn hoặc Tư Kiếm nếu việc bại lộ. Thấy trước mặt có xe chở than sắp lên cầu Trương Minh Giảng (cầu Lê Văn Sỹ hiện nay), một tên cảnh sát giữ xe than lại. Ba Sơn kéo xe cát, xi măng với cái thùng thiếc đựng xi măng chết tới sát xe than thì dừng lại nói với tên cảnh sát: “Chú cho tôi đi chữa thuê cái cầu tiêu, chú.” Nhìn Ba Sơn trong vai thợ hồ với bộ quần áo còn bết cứng từng mảng vữa, đất, mồ hôi ròng ròng trên mặt, tên cảnh sát không chút nghi ngờ khoát tay cho xe anh qua. Ba Sơn cúi rạp người kéo xe ba gác thành công mang quả mìn vượt cầu, Tư Kiếm thong thả đi theo bên lề đường.
Tới 9 giờ 30 phút tối 10/5/1964, tổ của Tư Kiếm xuất phát, hoàn tất phần chuẩn bị sau cùng, bảo vệ Nguyễn Hữu Lời làm nhiệm vụ rải dây điện nối vào trái mìn. Tuy nhiên muốn làm vậy thì phải chờ nước kênh lên cao mới giấu mình trong dòng nước mà rải dây. Không thể đứng đây chờ nước lên ngập người, Nguyễn Hữu Lời nghe ngóng rồi ôm cuộn dây điện tụt xuống kênh, quờ tay rút những dây rau muống vắt lên người rồi nhẹ nhàng rải cuộn dây điện trên bè rau muống, tiến tới bờ cây đặt trái mìn. Ðấu hai đầu sợi dây vào trái mìn rồi anh lần trở về chỗ nhà cầu. Mới đến giữa bè rau muống thì anh sững lại. Có tiếng người lao xao càng lúc càng lớn. Tiếng chân chạy rậm rịch trên con hẻm phía nhà cầu. Cả tiếng đấm đá, tiếng quát tháo. Người đổ ra xúm đông quanh khu nhà cầu. Qua tiếng lao xao, Nguyễn Hữu Lời biết anh Trỗi bị bắt ở ngay nhà cầu. Cả bộ quần áo của Lời cũng bị lôi ra. Chúng khẳng định còn một người nữa dưới kênh nên đi sục sạo bờ kênh. Lời nhanh chóng lần về phía bờ cây bên đường Công Lý, nơi còn yên tĩnh và tối mờ. Anh vừa nhô lên bám vào bờ kênh, định bò vào bờ cây thì một họng súng thúc mạnh vào ngực. Nguyễn Văn Trỗi và người đồng đội Nguyễn Hữu Lời đã bị bắt khi đang làm nhiệm vụ vào lúc 22 giờ ngày 9/5/1964.
Ngày 10/8/1964, anh Nguyễn Văn Trỗi và Nguyễn Hữu Lời bị đưa ra tòa án quân sự chính quyền Sài Gòn. Anh bị tòa án quân sự kết án tử hình và chúng đã định ngày xử bắn. Ðột nhiên có tin du kích quân Caracas (Venezuela) vừa bắt được viên trung tá không quân Mỹ và đòi đổi mạng cho anh Trỗi. Chính vì vậy Mỹ đành phải ra lệnh cho chính quyền Sài Gòn hoãn lại ngày hành hình anh Trỗi. Nhưng khi quân du kích Venezuela thả trung tá thì chúng lật lọng, vội vàng đem anh Trỗi xử bắn.
Lúc 9 giờ 45 phút ngày 15/10/1964, khi ra pháp trường tại sân sau nhà lao Khám Chí Hòa, anh rất bình thản, đàng hoàng, không đồng ý bịt mắt và xưng tội, hùng hồn vạch trần tội ác xâm lược của giặc Mỹ trước các ký giả và hô to trước họng súng quân thù: “Hãy nhớ lấy lời của tôi! Ðả đảo bọn xâm lược Mỹ và tay sai! Việt Nam muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”. 9 phút chiến đấu và hy sinh anh dũng của Nguyễn Văn Trỗi tại pháp trường đã trở thành biểu tượng của thế hệ thanh niên Việt Nam thời kỳ chống Mỹ.



