NGUYỄN VĂN TRỖI – NGƯỜI ANH HÙNG BẤT KHUẤT
Nguyễn Vũ Hà Linh

Nguyễn Văn Trỗi (1940–1964) là một trong những biểu tượng tiêu biểu của tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cuộc đời ngắn ngủi nhưng đầy khí phách của anh thể hiện rõ lòng yêu nước, tinh thần kiên trung và ý chí bất khuất trước kẻ thù.
Nguyễn Văn Trỗi sinh năm 1940 tại xã Thanh Quýt, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là phường An Thắng, thành phố Đà Nẵng) trong một gia đình có truyền thống cách mạng, trong một gia đình bần nông. Mất mẹ từ nhỏ, năm 1956, gia đình anh di cư vào Sài Gòn. Tại đây, anh vừa lao động kiếm sống, vừa học nghề điện và sau đó trở thành công nhân Nhà máy điện Chợ Quán. Từ môi trường công nhân, Nguyễn Văn Trỗi được giác ngộ cách mạng, tham gia tổ chức cách mạng và sau đó trở thành chiến sĩ biệt động Sài Gòn.
Năm 1963, anh gia nhập đội biệt động Sài Gòn, tích cực thực hiện nhiều nhiệm vụ được giao. Tháng 5-1964, khi phái đoàn quân sự cấp cao của Mỹ do Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara dự kiến đến Sài Gòn, lực lượng cách mạng có kế hoạch tiêu diệt phái đoàn. Dù mới cưới vợ hơn 10 ngày, Nguyễn Văn Trỗi vẫn tình nguyện nhận nhiệm vụ đặt mìn tại cầu Công Lý, nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 9-5-1964, trong khi thực hiện nhiệm vụ, anh bị chính quyền Sài Gòn bắt giữ. Bị giam tại Khám Chí Hòa, Nguyễn Văn Trỗi phải đối mặt với nhiều hình thức dụ dỗ, tra tấn nhưng vẫn giữ vững khí tiết, kiên quyết bảo vệ cơ sở cách mạng và không khuất phục trước kẻ thù.
Ngày 10-8-1964, anh bị đưa ra xét xử và kết án tử hình. Trước tòa, Nguyễn Văn Trỗi thể hiện thái độ kiên quyết, không hề nao núng trước bản án tử hình. Trước sức ép của phong trào đấu tranh quốc tế, chính quyền Sài Gòn từng tạm đình chỉ việc thi hành án. Tuy nhiên, sau khi trung tá Mỹ Michael Smolen được thả, Nguyễn Văn Trỗi vẫn bị đưa ra xử bắn.
Ngày 15-10-1964, tại Khám Chí Hòa, Nguyễn Văn Trỗi hiên ngang bước ra pháp trường. Trước lúc hy sinh, anh giữ vững tư thế bình tĩnh, kiên cường và hô vang những lời khẳng định lòng yêu nước, phản đối đế quốc Mỹ, đồng thời thể hiện niềm tin son sắt vào Tổ quốc và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hình ảnh người chiến sĩ trẻ tuổi hiên ngang trước họng súng kẻ thù đã trở thành biểu tượng nổi bật của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ca ngợi sự hy sinh và khí phách của Nguyễn Văn Trỗi, khẳng định chí khí của anh là “một tấm gương hy sinh cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước, nhất là các cháu thanh niên học tập.”
Sau khi Nguyễn Văn Trỗi hy sinh, phong trào học tập và noi theo tấm gương của anh lan rộng trong thanh niên Việt Nam. Ngày 17-10-1964, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam quyết định truy tặng anh danh hiệu Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng và Huân chương Thành đồng hạng nhất. Năm 1995, Đảng và Nhà nước truy tặng anh danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Hình tượng Nguyễn Văn Trỗi cũng trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật, tiêu biểu như bài thơ Hãy nhớ lấy lời tôi của Tố Hữu, bài hát Lời anh vọng mãi ngàn năm của Vũ Thanh, các tác phẩm điện ảnh và đặc biệt là bút ký Sống như anh của nhà báo Thái Duy.
Năm 1982, Ban Chấp hành Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh quyết định lấy ngày 15-10, ngày Nguyễn Văn Trỗi hy sinh, làm Ngày truyền thống thanh niên công nhân Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 15-4-2018, hài cốt của anh được chuyển từ Nghĩa trang Văn Giáp về an nghỉ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyễn Văn Trỗi đã sống một cuộc đời ngắn ngủi nhưng đầy ý nghĩa. Từ một người công nhân bình dị, anh trở thành người chiến sĩ cách mạng kiên trung, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Sự hy sinh của anh không chỉ là biểu tượng của lòng yêu nước và tinh thần bất khuất mà còn trở thành nguồn cổ vũ mạnh mẽ đối với nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.



