NGUYỄN VĂN TRỖI – người chiến sĩ trẻ tuổi của lực lượng biệt động Sài Gòn
Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử dân tộc, có những con người dù chỉ sống một quãng đời rất ngắn ngủi nhưng đã để lại dấu ấn bất tử. Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi – người chiến sĩ trẻ tuổi của lực lượng biệt động Sài Gòn – là một trong những biểu tượng rực sáng ấy.
Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1-2-1940 tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, Quảng Nam (nay là phường An Thắng, thành phố Đà Nẵng). Anh là con thứ ba trong một gia đình nông dân nghèo. Giặc Pháp đã giết hại mẹ anh khi anh mới ba tuổi, anh sống nhờ bác và anh chị họ.
Năm 15 tuổi, anh ra Đà Nẵng rồi vào Sài Gòn làm việc kiếm sống. Anh từng đạp xích lô, sau đó xin học nghề thợ điện và nhanh chóng trở thành một thợ điện giỏi nhờ chăm chỉ, cần cù và có tư chất thông minh. Anh làm việc tại nhiều xưởng lớn. Tại xưởng Ngọc Anh, với lòng yêu quê hương và căm thù giặc sâu sắc, anh được Đảng giác ngộ và được kết nạp vào Đoàn thanh niên, anh trở thành chiến sĩ biệt động 65, thuộc Đại đội quyết tử cánh Tây Nam Sài Gòn, quân khu Sài Gòn - Gia Định.
Bước vào đời hoạt động cách mạng, anh luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Có lần anh đã ném lựu đạn làm chết và bị thương một số tên địch. Được tin phái đoàn quân sự cấp cao của Mỹ do Mắc Na-ma-ra, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu sẽ đến Sài Gòn thị sát chiến trường vào tháng 5-1964, lực lượng của ta liền vạch kế hoạch tiêu diệt. Với tình yêu quê hương và lòng căm thù quân xâm lược sâu sắc nên mặc dù mới cưới vợ được hơn 10 ngày, Nguyễn Văn Trỗi vẫn xung phong nhận nhiệm vụ. Anh cùng đồng đội tiến hành cài mìn ở cầu Công Lý - nơi dự đoán là Mắc Na-ma-ra cùng phái đoàn Mỹ từ Sân bay Tân Sơn Nhất về trung tâm thành phố Sài Gòn sẽ đi qua. Tuy nhiên, khi anh cùng đồng đội mới đặt được quả mìn nặng 8kg ở cạnh cầu, đang chuẩn bị nốt một số công việc còn lại thì không may việc bị lộ, anh bị địch bắt.
Để bảo đảm an toàn hoạt động và tính mạng cho đồng đội, Nguyễn Văn Trỗi kiên quyết không khai mà còn nhận trách nhiệm về mình. Sau một thời gian giam giữ, tra tấn, kẻ thù đưa anh ra xử tại tòa án binh, rồi kết án tử hình. Vào 9 giờ 45 phút ngày 15/10/1964, chúng đưa Nguyễn Văn Trỗi ra xử bắn tại vườn rau nhà lao Chí Hòa - Sài Gòn.
Khi ra pháp trường anh rất bình thản, trước đông đảo các nhà báo trong và ngoài nước, anh đã vạch trần tội ác của đế quốc Mỹ. Khi địch bịt mắt, anh liền giật ra và nói: “Không, phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi”. Trước khi chết anh còn hô vang: “Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo đế quốc Mỹ! Đả đảo Nguyễn Khánh! Việt Nam muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”. Câu “Hồ Chí Minh muôn năm!’” được anh hô đến ba lần.
Tinh thần chiến đấu và hy sinh anh dũng của anh Trỗi tại pháp trường đã trở thành biểu tượng của thế hệ thanh niên Việt Nam thời kỳ chống Mỹ. Bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta đã ghi trên tấm ảnh của anh Trỗi: “Vì Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng. Chí khí lẫm liệt của Anh hùng Trỗi là một tấm gương cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước, nhất là cho các cháu thanh niên học tập”.
Hình ảnh anh Trỗi hai tay bị trói chặt vào cột nhưng đôi mắt anh vẫn sáng lên, vẫn hiên ngang nhìn thẳng vào quân thù là một hình ảnh bất tử đi vào lịch sử. Sau sự hy sinh anh dũng của anh có rất nhiều nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ và họa sĩ đã lấy hình tượng đó để ca ngợi anh. Nhà thơ Tố Hữu đã có bài thơ “Hãy nhớ lấy lời tôi” với những câu thơ mở đầu:
“Có những phút làm nên lịch sử
Có cái chết hóa thành bất tử
Có những lời hơn mọi bài ca
Có con người như chân lý sinh ra…”
Anh hy sinh khi mới 24 tuổi – đúng độ tuổi tràn đầy mơ ước và hoài bão, như chính nhiều bạn trẻ ngày nay. Nhưng sự hy sinh của anh đã góp phần thắp sáng tinh thần chiến đấu của dân tộc và lay động trái tim bạn bè quốc tế.



