Anh hùng Lực lượng vũ trang

Nguyễn Văn Trỗi – Người lính với tình yêu dang dở

Bác Hồ kính yêu đã ghi trong bức ảnh Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi trước pháp trường: “Vì Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng. Chí khí lẫm liệt của anh hùng Trỗi là một tấm gương cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước - nhất là cho các cháu thanh niên học tập!”

Ninh Bình22/01/2026Phạm Quang Anh (Chi đoàn sở Du lịch)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1.2.1940 tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng (nay là xã Điện Thắng Trung), huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình dòng họ giàu truyền thống cách mạng. Thân phụ anh là ông Nguyễn Văn Hóa (tự Thoàn) từng tham gia cách mạng thời chống Pháp; anh ruột là Nguyễn Văn Toàn, cũng từng tham gia cách mạng, hoạt động vùng Điện Bàn - Đà Nẵng.

Vào sáng thứ Hai ngày 11.5.1964, phái đoàn đặc biệt của Mỹ đến sân bay Tân Sơn Nhất, gồm: Mácnamara - Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ dẫn đầu, Thống tướng Maxwell-Taylor - Chủ tịch Hội đồng tham mưu hỗn hợp, Đại tướng Westmoreland - Tham mưu trưởng lục quân Mỹ, Mac-Cone - Giám đốc Cục tình báo CIA và nhiều quan chức cấp cao khác. Đây là một phái đoàn sừng sỏ có đầy đủ thẩm quyền quyết định tại chỗ mọi vấn đề về quân sự, kinh tế, chính trị... của chính quyền Sài Gòn. Do tầm quan trọng đó mà chính quyền Sài Gòn tăng cường kiểm soát nghiêm ngặt các tuyến đường phái đoàn sẽ đi qua từ mấy hôm trước.

Trong khi đó, tổ của Tư Kiếm, bằng trí thông minh đã đánh lừa được bọn lính gác để Lời và Ba Sơn đặt quả mìn 8 ký ngay gần đầu cầu Công lý (nơi phái đoàn sẽ đi qua) từ trưa ngày 8.5.1964. Đến 9 giờ 30 phút tối 9.5.1964, tổ Tư Kiếm xuất phát để hoàn tất việc chuẩn bị còn lại. Tư Kiếm và Ba Sơn ở vòng ngoài bảo vệ cho anh Trỗi và Lời kéo dây điện nối với trái mìn đặt sẵn. Khi anh Lời nối được dây điện vào quả mìn thì bị một tên là em của cảnh sát phát hiện, báo cảnh sát đến bao vây, bắt anh Trỗi và Lời. Nghe ồn ào, bà con xung quanh ra xem rất đông, lúc đó Tư Kiếm và Ba Sơn đứng ngoài, có súng, có lựu đạn trong tay nhưng không thể hành động để giải vây, vì sợ gây thương vong đến người dân, đành cắn răng để đồng đội bị bắt. Ngay từ đầu anh Trỗi đã nhận mọi trách nhiệm về mình, để tránh tai nạn cho đồng đội, cơ sở đã nuôi nấng mình, đặc biệt là để cứu sống Lời.

Tại Tổng nha cảnh sát, bọn địch vừa tra tấn, vừa dụ dỗ anh Trỗi, nhưng chúng hoàn toàn thất bại. Mấy ngày sau, anh Trỗi thừa cơ hội nhảy lầu vượt ngục nhưng bị gãy chân nên bị bắt lại. Địch đưa đi chữa trị ở Bệnh viện Chợ Rẫy, sau đó biệt giam anh. Đến ngày 8.8.1964, địch đưa anh Trỗi và Lời về Khám Chí Hòa. Ngày 10.8.1964, chúng đưa hai anh ra tòa. Trước tòa, anh Trỗi đã trở thành người buộc tội đế quốc Mỹ và tay sai: “Chính bọn Mỹ mới là kẻ có tội, là thủ phạm gây ra cảnh xóm làng tan nát, cảnh chết chóc lầm than, con mất cha, vợ mất chồng”. Chiều 11.8.1964, địch đưa anh Trỗi đến phòng giam 3B11 trên lầu hai.

Thời gian ở trong tù, anh đã chịu bao nhiêu cực hình tra tấn của địch; nhưng anh vẫn luôn giữ vững khí tiết của người cộng sản, bảo vệ cơ sở cách mạng và tìm cách vượt ngục để được tiếp tục chiến đấu. Nhiều lần anh đã nói thẳng vào mặt kẻ thù: “Còn giặc Mỹ, không ai có hạnh phúc cả”. Câu nói ấy không chỉ gây xúc động trong tuổi trẻ và nhân dân ta, mà cả tuổi trẻ và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Tuy biết trước sẽ bị tử hình nhưng anh vẫn ung dung, lạc quan, yêu đời, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Cảm kích trước hành động của anh, để cứu anh, một tổ chức du kích nước Venezuela tuyên bố trao đổi anh với một con tin là trung tá không quân Mỹ - Michael Smolen mà họ vừa bắt giữ. Tuy nhiên, khi viên sĩ quan Mỹ này được trả tự do thì anh Trỗi bị địch đưa đi xử bắn.

Vào lúc 9 giờ 45 phút, ngày 15.10.1964, địch đưa anh Trỗi ra pháp trường Chí Hòa xử bắn. Chân anh vẫn còn đau do lần nhảy lầu vượt ngục không thành, người anh gầy yếu do chế độ hà khắc của nhà giam tử tù, nhưng tinh thần của anh không hề nao núng, không hề khuất phục trước đường lê, mũi súng giặc. Anh không cho bịt mắt để được nhìn nhân dân, đất nước và thể hiện khí phách trước kẻ thù… Trong những phút cuối cùng, trước sự chứng kiến của nhiều phóng viên nước ngoài, anh đã hô vang: “Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo đế quốc Mỹ! Đã đảo Nguyễn Khánh! Việt Nam muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”, được các phóng viên ghi lại.

Ngày 17.10.1964, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã truy tặng Nguyễn Văn Trỗi danh hiệu Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng và Huân chương Thành đồng hạng Nhất. Năm 1995, Đảng và Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho anh.

Sau khi xử bắn anh, chính quyền Việt Nam Cộng hòa bí mật chôn thi thể anh Nguyễn Văn Trỗi tại nghĩa trang Văn Giáp ở Giồng Ông Tố (nay thuộc phường Bình Trung Đông, quận 2, TP.Hồ Chí Minh). Sau nhiều ngày tìm kiếm, cha và vợ anh Trỗi mới tìm thấy mộ. Năm 1994, tuổi trẻ Quảng Nam - Đà Nẵng với sự góp sức của tuổi trẻ cả nước đã xây dựng Nhà lưu niệm Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi trong khuôn viên Nghĩa trang liệt sĩ huyện Điện Bàn (xã Điện Thắng Trung, quê hương anh). Năm 2002, nhân ngày giỗ lần thứ 38 của anh, tuổi trẻ Quảng Nam cũng như gia đình anh Trỗi có nguyện vọng được di dời phần mộ của anh về nghĩa trang liệt sĩ tại quê nhà, đồng thời cũng là di nguyện của cha anh trước lúc qua đời. Nhưng cũng theo nguyện vọng của thanh niên TP.Hồ Chí Minh và tuổi trẻ cả nước, mộ anh vẫn được giữ lại tại nghĩa trang Văn Giáp. Năm 2012, nhân kỷ niệm 48 năm ngày anh hy sinh (15.10.2012) tuổi trẻ Quảng Nam đã khánh thành công trình “Xây dựng và nâng cấp Nhà lưu niệm Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi”. Dịp này, huyện Điện Bàn kêu gọi tuổi trẻ cả nước tích cực sưu tầm hình ảnh, tư liệu, kỷ vật và các đoạn video giới thiệu về cuộc đời Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi để trưng bày tại nhà lưu niệm, và nơi đây trở thành “địa chỉ đỏ” trong hành trình về nguồn của tuổi trẻ Quảng Nam nói riêng, cả nước nói chung.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Nguyễn Văn Trỗi – Người lính với tình yêu dang dở | Câu chuyện thời hoa lửa