NGUYỄN VĂN TRỖI – NGƯỜI THANH NIÊN TRƯỚC GIỜ PHÚT CUỐI CÙNG
Tác giả: Phan Thị Thanh Thủy
Có những người anh hùng được nhớ đến bởi những trận đánh lớn, nhưng cũng có những người trở thành biểu tượng bởi cách họ đối diện với cái chết. Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi là một trong những cái tên như thế. Anh sinh năm 1940 tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Xuất thân trong một gia đình lao động nghèo, tuổi thơ của Nguyễn Văn Trỗi gắn với những năm tháng đất nước còn chìm trong chiến tranh. Khi trưởng thành, anh vào Sài Gòn làm thợ điện và sau đó tham gia hoạt động cách mạng. Một người thanh niên bình thường với công việc bình thường đã lựa chọn bước vào con đường đầy hiểm nguy, để rồi chỉ vài năm sau trở thành một biểu tượng của lòng yêu nước và tinh thần bất khuất của tuổi trẻ Việt Nam.
Tôi nghĩ điều khiến câu chuyện Nguyễn Văn Trỗi đặc biệt là anh không phải một vị tướng, cũng không phải một người có cấp bậc cao trong quân đội. Anh chỉ là một người thanh niên.
Một người thợ điện.
Một người chồng trẻ.
Một người con của miền Trung.
Một người có những ước mơ rất bình thường.
Nhưng khi đất nước cần, anh đã lựa chọn đặt những ước mơ riêng của mình phía sau nhiệm vụ với Tổ quốc.
Năm 1964, Nguyễn Văn Trỗi nhận nhiệm vụ đặt mìn tại cầu Công Lý ở Sài Gòn nhằm thực hiện kế hoạch đánh đoàn xe của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara trong chuyến thăm miền Nam Việt Nam. Ngày 9/5/1964, trong lúc đang thực hiện nhiệm vụ, anh bị phát hiện và bắt giữ. (mod.gov.vn)
Từ giây phút bị bắt, cuộc đời của người thanh niên ấy bước sang một trang khác.
Nhà tù.
Thẩm vấn.
Tra tấn.
Áp lực.
Và một bản án tử hình.
Tôi nghĩ với một người trẻ, đó là một hoàn cảnh khủng khiếp.
Anh biết mình có thể chết.
Biết thời gian còn lại của mình không còn nhiều.
Biết phía trước không phải là một trận đánh mà mình có thể tìm cách thoát ra.
Nhưng điều đáng nhớ là Nguyễn Văn Trỗi không khuất phục.
Trong những ngày bị giam giữ, anh vẫn giữ vững tinh thần của một người chiến sĩ cách mạng. Các tư liệu lịch sử ghi lại rằng trước tòa án và trong những giờ phút cuối cùng, anh vẫn thể hiện thái độ kiên cường, không khuất phục trước kẻ thù. (mod.gov.vn)
Tôi nghĩ có một sự khác biệt rất lớn giữa việc dũng cảm khi đang chiến đấu và dũng cảm khi biết mình sắp chết.
Khi đang chiến đấu, con người vẫn có hy vọng.
Hy vọng sống.
Hy vọng chiến thắng.
Hy vọng trở về.
Nhưng khi đứng trước pháp trường, một người biết rằng thời gian của mình chỉ còn tính bằng phút.
Không còn nơi để chạy.
Không còn trận đánh để tiếp tục.
Chỉ còn sự lựa chọn cuối cùng:
Khuất phục hay giữ vững điều mình tin.
Nguyễn Văn Trỗi đã chọn điều thứ hai.
Ngày 15/10/1964, anh bị đưa ra pháp trường tại sân sau nhà lao Chí Hòa. Khi ấy anh mới 24 tuổi. (mod.gov.vn)
Hai mươi bốn tuổi.
Tôi nghĩ đây là một con số khiến câu chuyện trở nên đặc biệt đau lòng.
24 tuổi hôm nay là tuổi của rất nhiều người đang học đại học, bắt đầu công việc, yêu đương, lập gia đình và nghĩ về tương lai.
Còn Nguyễn Văn Trỗi ở tuổi 24 đã đứng trước cái chết.
Anh chưa kịp sống một cuộc đời dài.
Chưa kịp có những năm tháng bình yên bên gia đình.
Chưa kịp tận hưởng cuộc sống vợ chồng.
Chưa kịp nhìn thấy đất nước thống nhất.
Nhưng chính vì tuổi đời còn rất trẻ, câu chuyện của anh càng khiến người ta cảm nhận rõ cái giá của chiến tranh.
Tôi nghĩ nếu Nguyễn Văn Trỗi được sống trong một thời bình, có lẽ cuộc đời anh sẽ rất khác.
Có thể anh vẫn làm nghề điện.
Có thể anh sẽ trở thành một người thợ giỏi.
Có thể anh sẽ cùng vợ xây dựng một gia đình nhỏ.
Có thể anh sẽ có những đứa con.
Có thể cuối tuần anh sẽ đưa gia đình đi đâu đó.
Có thể anh sẽ già đi như bao người khác.
Nhưng chiến tranh đã lấy đi tất cả những “có thể” ấy.
Và điều còn lại là một cái tên.
Nguyễn Văn Trỗi.
Tôi nghĩ chính vì vậy, khi kể câu chuyện của anh, chúng ta không nên chỉ nói rằng anh là một người anh hùng.
Hãy nhớ rằng trước khi trở thành anh hùng, anh từng là một người trẻ có một cuộc đời riêng.
Anh từng yêu.
Từng có gia đình.
Từng có những điều muốn làm.
Và cũng từng mong được sống.
Một trong những hình ảnh xúc động nhất trong câu chuyện Nguyễn Văn Trỗi là hình ảnh anh đối diện với giờ phút cuối cùng. Trước khi hy sinh, anh vẫn giữ tư thế hiên ngang, không chịu khuất phục. Những lời nói của anh tại pháp trường sau này trở thành biểu tượng về tinh thần bất khuất của người chiến sĩ cách mạng. (mod.gov.vn)
Tôi nghĩ điều khiến người ta nhớ mãi không phải là một câu nói cụ thể.
Mà là thái độ của anh.
Một người biết mình sắp chết nhưng vẫn không cúi đầu.
Một người biết mình không thể thay đổi số phận của bản thân nhưng vẫn muốn khẳng định niềm tin của mình.
Đó là một loại sức mạnh rất đặc biệt.
Bởi kẻ thù có thể lấy đi mạng sống của một con người.
Nhưng không phải lúc nào cũng có thể lấy đi niềm tin của họ.
Nguyễn Văn Trỗi đã trở thành một biểu tượng như vậy.
Một con người có thể bị bắt.
Có thể bị giam.
Có thể bị kết án.
Nhưng vẫn có thể giữ được phẩm giá và niềm tin đến giây phút cuối cùng.
Tôi nghĩ đây cũng là lý do câu chuyện của anh được truyền lại cho nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam.
Bởi tuổi trẻ luôn cần những hình mẫu để hiểu rằng lòng dũng cảm không phải là một khái niệm xa xôi.
Dũng cảm có thể là dám đứng lên khi người khác muốn mình im lặng.
Dám bảo vệ điều mình tin là đúng.
Dám chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình.
Và đôi khi, dũng cảm là giữ vững bản thân ngay cả khi biết mình đang đứng trước một hoàn cảnh không thể thay đổi.
Nhưng bên cạnh hình ảnh người chiến sĩ kiên cường, tôi vẫn muốn nhớ Nguyễn Văn Trỗi như một người chồng trẻ.
Anh và chị Phan Thị Quyên yêu nhau và kết hôn trong những năm tháng chiến tranh. Khi Nguyễn Văn Trỗi bị bắt, chị Quyên cũng phải trải qua những ngày tháng vô cùng đau đớn và chờ đợi. Sau khi anh hy sinh, cuộc đời chị gắn với ký ức về người chồng đã ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ. (mod.gov.vn)
Tôi nghĩ khi nhìn câu chuyện từ góc độ ấy, chiến tranh lại hiện lên với một màu sắc khác.
Không chỉ có người lính.
Mà còn có người ở lại.
Không chỉ có người hy sinh.
Mà còn có người phải sống tiếp với nỗi nhớ.
Không chỉ có một cái chết.
Mà còn có một cuộc đời khác bị thay đổi bởi cái chết ấy.
Một người vợ mất chồng.
Một gia đình mất người con.
Một người mẹ mất con.
Một người bạn mất một người bạn.
Chiến tranh luôn có nhiều hơn một người chịu mất mát.
Tôi nghĩ đó là điều chúng ta cần nhớ.
Bởi khi đọc lịch sử, đôi khi chúng ta chỉ nhìn thấy người hy sinh.
Nhưng phía sau họ luôn có những người sống tiếp.
Họ mang theo ký ức ấy trong nhiều năm.
Có những người không bao giờ quên.
Có những người vẫn kể lại câu chuyện.
Và chính nhờ những người ấy mà tên tuổi của người đã mất tiếp tục tồn tại.
Nguyễn Văn Trỗi cũng vậy.
Sau khi anh hy sinh, câu chuyện về người thanh niên 24 tuổi đã được lan truyền rộng rãi, trở thành nguồn cảm hứng mạnh mẽ đối với phong trào thanh niên trong và ngoài nước. Tên tuổi của anh được đặt cho nhiều con đường, trường học, công trình và tổ chức thanh niên. (qdnd.vn)
Tôi nghĩ điều đó cho thấy một con người có thể không sống lâu nhưng vẫn có thể để lại ảnh hưởng rất dài.
Một cuộc đời 24 năm.
Nhưng ký ức kéo dài hơn sáu mươi năm.
Một người không kịp nhìn thấy tương lai.
Nhưng câu chuyện của anh lại đi cùng rất nhiều thế hệ tương lai.
Tôi nghĩ đó là một nghịch lý rất đẹp của lịch sử.
Một người chết đi.
Nhưng lý tưởng của họ vẫn sống.
Một người không còn nói được.
Nhưng câu chuyện của họ vẫn được kể.
Một người không thể bước tiếp.
Nhưng những người trẻ khác lại tiếp tục bước đi từ nơi họ đã dừng lại.
Và có lẽ đó chính là cách một người trở thành biểu tượng.
Không phải vì họ sống lâu.
Mà vì những gì họ để lại đủ sức khiến người khác nhớ.
Tôi cũng nghĩ Nguyễn Văn Trỗi là một trong những hình ảnh tiêu biểu cho tuổi trẻ Việt Nam trong chiến tranh.
Một thế hệ rất trẻ nhưng đã phải đối diện với những lựa chọn rất lớn.
Họ có thể lựa chọn cuộc sống riêng.
Nhưng nhiều người đã lựa chọn đất nước.
Họ có thể sợ.
Nhưng vẫn đi.
Có thể nhớ nhà.
Nhưng vẫn ở lại.
Có thể muốn sống.
Nhưng vẫn chấp nhận hy sinh khi cần thiết.
Tôi không nghĩ chúng ta cần lý tưởng hóa chiến tranh hay sự hy sinh.
Bởi chiến tranh vốn là mất mát.
Nhưng chúng ta cần hiểu những con người trong thời đại ấy đã phải sống như thế nào để biết trân trọng hòa bình hôm nay.
Tôi nghĩ đó mới là điều quan trọng nhất.
Không phải để người trẻ muốn trở thành anh hùng bằng cách tìm kiếm nguy hiểm.
Mà để chúng ta hiểu rằng cuộc sống bình yên hiện tại không tự nhiên mà có.
Có những người đã không được sống đến ngày hôm nay.
Có những người đã hy sinh tuổi trẻ.
Có những gia đình đã mất đi người thân.
Và vì vậy, hòa bình là một món quà cần được trân trọng.
Nếu Nguyễn Văn Trỗi được sống đến hôm nay, có lẽ anh sẽ không muốn những người trẻ phải đứng trước pháp trường như mình.
Có lẽ anh sẽ muốn họ được học.
Được làm việc.
Được yêu.
Được xây dựng gia đình.
Được sống những ngày bình thường.
Bởi suy cho cùng, những người đã hy sinh trong chiến tranh không chiến đấu để thế hệ sau tiếp tục sống trong chiến tranh.
Họ chiến đấu để thế hệ sau được sống trong hòa bình.
Tôi nghĩ đó là điều chúng ta cần nhớ nhất khi kể câu chuyện về họ.
Nếu phải chọn một hình ảnh để kết thúc câu chuyện về Nguyễn Văn Trỗi, tôi muốn chọn khoảnh khắc người thanh niên 24 tuổi bước ra pháp trường.
Anh biết phía trước chỉ còn vài phút.
Nhưng phía sau anh là cả một đất nước.
Là gia đình.
Là người vợ trẻ.
Là đồng đội.
Là những người sẽ tiếp tục sống.
Anh bước đi không phải vì anh không sợ chết.
Mà bởi anh đã lựa chọn cách đối diện với cái chết bằng lòng kiên cường.
Một người lính có thể mất đi sự sống.
Nhưng cách họ sống trong những giây phút cuối cùng có thể khiến tên tuổi họ tồn tại rất lâu.
Nguyễn Văn Trỗi đã như vậy.
Nguyễn Văn Trỗi hy sinh khi mới 24 tuổi, nhưng cuộc đời ngắn ngủi ấy đã trở thành một câu chuyện dài về lòng yêu nước, tình yêu và sự bất khuất. Anh từng là một người thợ điện, một người chồng trẻ, một thanh niên bình thường có những ước mơ rất bình thường. Nhưng khi đất nước cần, anh đã lựa chọn con đường đấu tranh và chấp nhận hy sinh. Điều khiến người ta nhớ về Nguyễn Văn Trỗi không chỉ là nhiệm vụ anh từng thực hiện hay cái chết của anh, mà là cách anh đứng trước giờ phút cuối cùng: bình tĩnh, hiên ngang và không khuất phục. Hơn sáu mươi năm đã trôi qua, nhưng cái tên Nguyễn Văn Trỗi vẫn còn được nhắc đến. Có lẽ bởi tuổi trẻ của anh đã dừng lại ở năm 24 tuổi, nhưng lý tưởng và câu chuyện về anh thì chưa bao giờ dừng lại.



