Anh hùng Lực lượng vũ trang

Nguyễn Văn Trỗi – Người thanh niên viết nên bản anh hùng ca bằng chính tuổi xuân của mình

Cần Thơ03/08/2026Đoàn trường THPT Thái Hòa (Đoàn xã Thái Hòa)9 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có những trang sử khi đọc lên khiến lòng người rưng rưng xúc động. Có những con người tuy chỉ sống một cuộc đời rất ngắn nhưng tên tuổi lại sống mãi cùng non sông đất nước. Đối với em, mỗi lần học về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hình ảnh người anh hùng Nguyễn Văn Trỗi luôn để lại trong em nhiều cảm xúc đặc biệt. Đó là hình ảnh một chàng trai mới ngoài hai mươi tuổi, bình dị như bao người lao động khác, nhưng lại mang trong mình một trái tim yêu nước mãnh liệt, sẵn sàng hiến dâng cả tuổi trẻ và tính mạng vì độc lập của dân tộc. Anh không chỉ là một người chiến sĩ cách mạng mà còn là biểu tượng đẹp của lòng yêu nước, của tinh thần bất khuất và niềm tin sắt son vào ngày đất nước thống nhất.

Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1 tháng 2 năm 1940 tại xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Anh sinh ra trong một gia đình lao động nghèo đông con. Tuổi thơ của anh gắn liền với những năm tháng đất nước bị chiến tranh tàn phá. Từ khi còn nhỏ, anh đã chứng kiến cảnh quê hương bị bom đạn cày xới, nhiều người dân vô tội phải sống trong đau thương, mất mát. Chính những hình ảnh ấy đã nuôi dưỡng trong lòng cậu bé Nguyễn Văn Trỗi một tình yêu quê hương tha thiết và lòng căm thù giặc sâu sắc.

Khi lớn lên, giống như nhiều thanh niên thời bấy giờ, anh rời quê hương vào Sài Gòn kiếm sống bằng nghề thợ điện. Đó là một công việc vất vả, thu nhập không cao nhưng anh luôn chăm chỉ lao động và sống giản dị. Bên cạnh công việc thường ngày, anh vẫn luôn hướng về cách mạng. Đối với Nguyễn Văn Trỗi, được góp sức vào sự nghiệp giải phóng dân tộc là niềm hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời.

Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, chiến trường miền Nam ngày càng ác liệt. Bom đạn không chỉ tàn phá làng mạc mà còn cướp đi sinh mạng của biết bao đồng bào vô tội. Chứng kiến cảnh ấy, Nguyễn Văn Trỗi càng quyết tâm tham gia lực lượng biệt động Sài Gòn. Anh hiểu rất rõ rằng con đường mình lựa chọn có thể phải đánh đổi bằng cả tính mạng, nhưng anh chưa bao giờ chùn bước. Với anh, khi Tổ quốc cần thì tuổi trẻ phải biết cống hiến.

Năm 1964, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara dự định sang Sài Gòn để trực tiếp chỉ đạo chiến tranh. Để ngăn chặn âm mưu ấy, tổ chức cách mạng giao cho Nguyễn Văn Trỗi nhiệm vụ đặt mìn tại cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi). Đây là nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm bởi cây cầu được quân đội và cảnh sát canh gác nghiêm ngặt ngày đêm. Nếu bị phát hiện, người thực hiện gần như chắc chắn sẽ phải hy sinh.

Thế nhưng, khi nhận nhiệm vụ, Nguyễn Văn Trỗi không hề do dự. Anh hiểu rằng nếu kế hoạch thành công sẽ tạo nên tiếng vang lớn, góp phần làm suy giảm tinh thần của kẻ thù và khẳng định ý chí chiến đấu của nhân dân Việt Nam. Với tất cả lòng dũng cảm và niềm tin vào cách mạng, anh bắt đầu thực hiện nhiệm vụ.

Đáng tiếc, trước giờ hành động, anh bị địch phát hiện và bắt giữ. Từ đây bắt đầu những ngày tháng vô cùng khắc nghiệt trong nhà tù của chính quyền Sài Gòn. Kẻ địch dùng mọi thủ đoạn tra tấn dã man nhằm buộc anh khai báo về tổ chức cách mạng. Chúng đánh đập, tra khảo suốt nhiều ngày nhưng người thanh niên ấy vẫn một mực giữ im lặng. Anh chấp nhận mọi đau đớn về thể xác để bảo vệ đồng đội và giữ trọn bí mật của cách mạng.

Điều khiến em khâm phục nhất chính là ý chí phi thường của Nguyễn Văn Trỗi. Anh chỉ mới hai mươi bốn tuổi – độ tuổi mà ngày nay biết bao bạn trẻ còn đang mơ về tương lai, về sự nghiệp và hạnh phúc riêng. Thế nhưng anh lại sẵn sàng gác lại tất cả để lựa chọn con đường chiến đấu. Trong những ngày bị giam giữ, anh luôn tin tưởng rằng dù mình có hy sinh thì đất nước nhất định sẽ giành được độc lập. Anh từng khẳng định một câu nói đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước:

"Còn giặc Mỹ thì còn phải chiến đấu."

Câu nói ấy tuy ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một lý tưởng lớn lao. Đó là lời khẳng định rằng người chiến sĩ cách mạng sẽ không bao giờ khuất phục trước kẻ thù, chừng nào đất nước còn bị xâm lược thì chừng ấy cuộc chiến đấu vì độc lập vẫn sẽ tiếp tục.

Sau phiên tòa, Nguyễn Văn Trỗi bị tuyên án tử hình. Dù biết trước cái chết đang đến rất gần, anh vẫn giữ phong thái bình tĩnh, lạc quan và đầy khí phách. Sáng ngày 15 tháng 10 năm 1964, tại pháp trường Chí Hòa, rất đông phóng viên quốc tế có mặt để chứng kiến buổi hành quyết.

Khi quân địch định bịt mắt anh, Nguyễn Văn Trỗi đã kiên quyết từ chối. Anh muốn nhìn thẳng vào quân thù bằng đôi mắt của một người chiến thắng về ý chí. Anh không hề cúi đầu, không hề run sợ.

Trước những họng súng đang chĩa vào mình, anh dõng dạc hô vang:

"Đả đảo đế quốc Mỹ!"

"Hồ Chí Minh muôn năm!"

"Việt Nam muôn năm!"

Những tiếng hô ấy vang lên đầy mạnh mẽ giữa pháp trường như một lời tuyên bố với cả thế giới rằng dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ khuất phục trước bất kỳ thế lực xâm lược nào. Chỉ ít giây sau, loạt đạn vang lên, Nguyễn Văn Trỗi anh dũng hy sinh khi mới 24 tuổi.

Anh ra đi, nhưng tinh thần của anh thì không bao giờ mất. Cái chết của Nguyễn Văn Trỗi đã làm rung động lương tri của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Nhiều cuộc mít tinh phản đối chiến tranh đã được tổ chức ở nhiều quốc gia. Tên tuổi của anh trở thành biểu tượng của phong trào đấu tranh chống chiến tranh xâm lược và bảo vệ hòa bình.

Sau ngày đất nước thống nhất, để ghi nhớ công lao to lớn ấy, nhiều con đường, trường học, công viên và công trình trên khắp Việt Nam đã được mang tên Nguyễn Văn Trỗi. Mỗi lần nhìn thấy những con đường mang tên anh, em lại nhớ đến một chàng trai trẻ đã gửi lại tuổi xuân nơi pháp trường để đổi lấy mùa xuân độc lập cho dân tộc.

Có người từng nói rằng: "Có những con người chết đi nhưng vẫn sống mãi trong trái tim nhân dân." Em nghĩ Nguyễn Văn Trỗi chính là một con người như thế. Anh không để lại những tài sản vật chất lớn lao, nhưng anh để lại cho dân tộc một di sản vô giá, đó là lòng yêu nước, ý chí kiên cường và niềm tin bất diệt vào tương lai của Tổ quốc.

Ngày hôm nay, khi được sống trong một đất nước hòa bình, em càng hiểu rằng mỗi trang sách mình học, mỗi lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió, mỗi tiếng cười rộn rã nơi sân trường đều được đánh đổi bằng máu xương của biết bao anh hùng liệt sĩ. Nếu không có những người như Nguyễn Văn Trỗi, có lẽ thế hệ trẻ chúng em sẽ không được sống trong cuộc sống bình yên và hạnh phúc như hôm nay.

Mỗi lần đọc về anh, em đều cảm thấy nghẹn ngào. Em thương người thanh niên chưa kịp sống trọn tuổi trẻ đã phải vĩnh viễn nằm xuống vì Tổ quốc. Em biết ơn anh và biết ơn tất cả những người đã hy sinh để bảo vệ từng tấc đất quê hương. Chính sự hy sinh ấy đã dạy cho em hiểu rằng hòa bình là điều vô cùng thiêng liêng và không bao giờ được phép lãng quên quá khứ.

Là một học sinh, em hiểu rằng mình không thể cầm súng như thế hệ cha anh năm xưa. Nhưng em có thể tiếp nối tinh thần của Nguyễn Văn Trỗi bằng cách học tập thật tốt, rèn luyện đạo đức, sống trung thực, yêu thương mọi người và luôn nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc. Em tin rằng mỗi việc làm tốt hôm nay chính là một nén hương tri ân gửi tới những người đã ngã xuống.

Khép lại câu chuyện về Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, trong lòng em vẫn còn nguyên niềm xúc động và sự kính phục. Dù thời gian có trôi qua bao lâu, hình ảnh người chiến sĩ trẻ hiên ngang hô vang "Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!" trước họng súng quân thù vẫn sẽ mãi là biểu tượng bất diệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Em xin cúi đầu bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Nguyễn Văn Trỗi và hàng triệu anh hùng, liệt sĩ đã hiến dâng tuổi xuân cho Tổ quốc. Em tự hứa sẽ luôn sống xứng đáng với những hy sinh cao cả ấy, để ngọn lửa yêu nước mà các thế hệ đi trước đã thắp lên sẽ mãi cháy sáng trong trái tim tuổi trẻ Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn