NGUYỄN VĂN TƯ – NGƯỜI HUẤN LUYỆN “ĐỘI QUÂN ONG VÒ VẼ” ĐÁNH GIẶC

NGUYỄN VĂN TƯ – NGƯỜI HUẤN LUYỆN “ĐỘI QUÂN ONG VÒ VẼ” ĐÁNH GIẶC
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trên mảnh đất Bến Tre – quê hương Đồng Khởi, nơi vũ khí còn thiếu thốn nhưng lòng yêu nước và ý chí chiến đấu của nhân dân thì không bao giờ vơi cạn – đã xuất hiện nhiều cách đánh giặc đầy sáng tạo. Giữa những câu chuyện ấy, hình ảnh Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tư, bí danh Thành Ngọc, người đã biến những tổ ong vò vẽ thành một “đội quân” đặc biệt trên chiến trường, khiến người đời sau không khỏi khâm phục trước trí thông minh, lòng gan dạ và khả năng dựa vào chính thiên nhiên quê hương để chống lại kẻ thù.
Nguyễn Văn Tư sinh năm 1935, quê ở ấp Thành Hóa 1, xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Lớn lên khi quê hương chìm trong chiến tranh, ông sớm giác ngộ cách mạng và tham gia đội du kích xã từ năm 1960. Hoạt động giữa vùng địch tạm chiếm, lực lượng vũ trang cách mạng phải đối mặt với sự chênh lệch rất lớn về vũ khí và trang bị. Trong khi quân địch có súng đạn, phương tiện chiến tranh và hệ thống đồn bốt dày đặc thì du kích địa phương phần lớn phải dựa vào chông, mìn, bẫy và những vũ khí thô sơ. Chính hoàn cảnh khắc nghiệt ấy đã thôi thúc Nguyễn Văn Tư tìm ra những cách đánh phù hợp với điều kiện của mình.
Ông không chỉ gan dạ mà còn đặc biệt nhạy bén trong việc quan sát và nắm bắt quy luật hoạt động của đối phương. Tháng 8 năm 1962, sau một thời gian theo dõi quy luật đi lại của quân địch, Nguyễn Văn Tư đã chỉ huy một tổ du kích bí mật phục kích gần đồn. Khi lực lượng địch rời khỏi đồn, ông cùng đồng đội bất ngờ xông vào, tiêu diệt tên đồn trưởng, thu vũ khí rồi rút lui an toàn. Đến tháng 6 năm 1963, khi có lựu đạn trong tay, ông lại nghĩ ra một cách đánh mới: dùng một quả mìn giả làm mồi nhử, gài lựu đạn phía dưới để khi địch tìm cách tháo gỡ thì bị đánh bất ngờ. Những cách đánh ấy cho thấy ở Nguyễn Văn Tư, sự dũng cảm luôn đi cùng với trí thông minh và khả năng sáng tạo.
Nhưng có lẽ độc đáo nhất trong cuộc đời chiến đấu của ông vẫn là câu chuyện về ong vò vẽ.
Người dân Nam Bộ vốn quen thuộc với những tổ ong vò vẽ trong vườn cây, bụi rậm, ven đồng ruộng. Nguyễn Văn Tư hiểu rằng loài ong này rất hung dữ khi tổ bị xâm phạm và có thể trở thành một thứ “vũ khí” đặc biệt nếu biết cách sử dụng. Từ năm 1962, ông bắt đầu nghiên cứu cách đưa những tổ ong đến những vị trí mà quân địch thường đi qua, rồi bố trí trận địa chông, mìn xung quanh. Khi địch lọt vào khu vực phục kích, du kích từ xa tác động làm tổ ong bị kích động. Đàn ong lập tức bay ra tấn công, khiến đội hình địch hoảng loạn, chạy tán loạn và vô tình lao vào những trận địa đã được chuẩn bị sẵn.
Điều đáng khâm phục là cách đánh ấy không đơn thuần dựa vào sự bất ngờ. Nguyễn Văn Tư đã tìm hiểu tập tính của ong, từng bước đưa chúng vào trận địa và phối hợp với địa hình để biến một yếu tố rất bình thường của thiên nhiên thành lợi thế chiến đấu. Có những trận, khi đàn ong đồng loạt tấn công, quân địch đang hành quân lập tức rối loạn. Kẻ chạy vào bụi cây, người tìm cách lao xuống nước, nhưng phía trước có thể là hầm chông, dưới dòng nước có thể đã bố trí chông hoặc xung quanh là những trận địa phục kích. Đàn ong trở thành mũi đánh đầu tiên, còn chông, mìn và lực lượng du kích tạo thành những mũi đánh tiếp theo.
Đó là một cách đánh rất đặc biệt của chiến tranh nhân dân: lấy cái ít đối chọi với cái nhiều, lấy trí tuệ bù đắp cho sự thiếu thốn vũ khí, lấy địa hình và thiên nhiên làm đồng minh. Theo Báo Quân đội nhân dân, từ năm 1960 đến tháng 10 năm 1964, Nguyễn Văn Tư đã tổ chức hơn 200 trận bao vây, quấy rối và đánh đồn bốt địch, diệt 46 tên, làm bị thương 113 tên. Riêng với cách đánh bằng ong vò vẽ, ông đã gây thương vong cho hơn 50 tên địch qua khoảng 30 trận. Cách đánh độc đáo này còn được ông truyền đạt để nhân rộng trên chiến trường.
Điều làm nên giá trị của câu chuyện Nguyễn Văn Tư không nằm ở sự kỳ lạ của những “chiến binh ong vò vẽ”, mà sâu xa hơn là ở tinh thần tự lực, tự cường và sáng tạo của người chiến sĩ cách mạng. Trong hoàn cảnh thiếu thốn đủ đường, ông không chờ đợi một thứ vũ khí hiện đại từ đâu đó đến với mình. Ông nhìn vào chính mảnh đất quê hương, vào những điều tưởng như nhỏ bé và bình thường nhất, để tìm ra cách biến chúng thành sức mạnh. Một tổ ong trong tay người bình thường chỉ là một tổ ong; nhưng trong con mắt của một người chiến sĩ biết suy nghĩ và biết sáng tạo, nó có thể trở thành một mắt xích trong cả một trận địa.
Đằng sau câu chuyện tưởng như lạ thường ấy vẫn là một người lính bằng xương bằng thịt, đã nhiều lần đối mặt với hiểm nguy và biết rằng mỗi trận đánh đều có thể là trận đánh cuối cùng. Nguyễn Văn Tư đã chiến đấu hơn 200 trận trong những năm tháng khốc liệt ấy. Đến năm 1964, ông anh dũng hy sinh, khép lại cuộc đời chiến đấu khi tuổi đời còn rất trẻ. Ngày 5 tháng 5 năm 1965, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Hôm nay, khi chiến tranh đã lùi xa, câu chuyện về người chiến sĩ du kích Nguyễn Văn Tư vẫn còn được nhắc lại như một minh chứng đặc biệt cho sức mạnh của trí tuệ Việt Nam trong chiến tranh. Người ta có thể nhớ đến ông qua những tổ ong vò vẽ, qua những trận địa chông mìn và những trận đánh khiến quân địch khiếp sợ, nhưng điều đáng nhớ hơn cả vẫn là tinh thần không khuất phục trước gian khó. Ông đã chứng minh rằng trong những thời khắc khắc nghiệt nhất, khi vũ khí trong tay còn ít ỏi, lòng yêu nước, sự mưu trí và ý chí chiến đấu của con người có thể tạo nên những sức mạnh mà kẻ thù không thể lường trước.
Một tổ ong nhỏ giữa vườn quê năm nào giờ đây đã trở thành một hiện vật được lưu giữ tại Bảo tàng Lực lượng vũ trang Quân khu 9. Nó không chỉ kể câu chuyện về một cách đánh độc đáo, mà còn nhắc nhớ về một thế hệ đã sống, chiến đấu và hy sinh bằng tất cả những gì mình có. Với Anh hùng Nguyễn Văn Tư, đó là những tổ ong vò vẽ của quê hương, là trí tuệ của người du kích và trên hết là một tấm lòng son sắt với đất nước. Ông đã biến thiên nhiên thành sức mạnh, biến sự thiếu thốn thành sáng tạo và biến cuộc đời mình thành một câu chuyện đẹp của thời hoa lửa – câu chuyện về một người anh hùng không chỉ biết cầm súng đánh giặc, mà còn biết dùng trí tuệ để làm nên chiến thắng.



