NGUYỄN VI HỢI – NGƯỜI LÍNH TRẺ TRÊN ĐƯỜNG TIẾN VỀ SÀI GÒN
Nguyễn Vi Hợi sinh năm 1951, dân tộc Kinh, quê xã Phú Khê, huyện Cẩm Khê, tỉnh Vĩnh Phú. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng sĩ, trung đội phó Đại đội 9 bộ binh, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64, Sư đoàn 320, Quân đoàn 3, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ năm 1972 đến tháng 4-1975, Nguyễn Vi Hợi chiến đấu tại Tây Nguyên và Nam Bộ, tham gia chỉ huy tiểu đội, trung đội đánh 14 trận. Nổi bật trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975, ông cùng đồng đội chặn quân địch rút chạy ở Cheo Reo, truy kích tới Phú Yên, bắt nhiều tù binh và tham gia giữ chốt Cầu Bông ở cửa ngõ Sài Gòn. Riêng Nguyễn Vi Hợi được ghi nhận diệt 43 tên, bắt 120 tên, bắn cháy 6 xe tăng, xe bọc thép và thu 8 chiếc khác. Ngày 15-1-1976, ông được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Mùa Xuân năm 1975, khi những binh đoàn chủ lực của quân giải phóng từ Tây Nguyên tiến xuống đồng bằng rồi hướng về Sài Gòn, có một người lính trẻ đã đi qua những ngày chiến đấu liên tiếp, từ Cheo Reo, Phú Yên đến Cầu Bông, góp sức vào bước tiến thần tốc của quân đội ta.
Người lính ấy là Nguyễn Vi Hợi.
Ông sinh năm 1951 tại xã Phú Khê, huyện Cẩm Khê, tỉnh Vĩnh Phú. Từ năm 1972, Nguyễn Vi Hợi chiến đấu tại Tây Nguyên rồi Nam Bộ. Qua thực tế chiến trường, từ một người lính, ông dần trưởng thành trong nhiệm vụ chỉ huy tiểu đội, trung đội.
Điều nổi bật ở Nguyễn Vi Hợi là sự gan dạ, quyết đoán và khả năng xử trí nhanh trong những tình huống chiến đấu phức tạp.
Nhưng phải đến mùa Xuân năm 1975, những phẩm chất ấy mới được thể hiện đặc biệt rõ nét.
Sau thắng lợi ở Buôn Ma Thuột, đội hình quân địch ở Tây Nguyên rơi vào tình trạng hỗn loạn. Trên đường số 7, những đoàn quân cùng xe tăng, xe bọc thép và phương tiện quân sự tìm đường rút chạy.
Ngày 19 và 20 tháng 3 năm 1975, tiểu đội của Nguyễn Vi Hợi nhận nhiệm vụ chốt chặn ở phía nam Cheo Reo.
Trước mắt những người lính là một lực lượng địch đang tháo chạy với nhiều phương tiện cơ giới.
Nguyễn Vi Hợi không chờ đợi.
Khi xe tăng đối phương lọt vào tầm bắn, ông sử dụng B.40.
Quả thứ nhất lao đi.
Một chiếc xe tăng bị tiêu diệt.
Quả thứ hai tiếp tục được phóng lên.
Thêm một chiếc nữa bị loại khỏi vòng chiến đấu.
Hai chiếc xe tăng bị đánh ngay từ đầu khiến đội hình phía sau ùn lại. Quân địch hoảng loạn, bỏ đội hình chạy tán loạn.
Nguyễn Vi Hợi lập tức nhận ra thời cơ.
Ông chỉ huy tiểu đội vừa chiến đấu, vừa truy kích, đồng thời kêu gọi những binh lính không còn khả năng chống cự hạ vũ khí đầu hàng.
Suốt hai ngày, tiểu đội liên tục bám theo đội hình rút chạy.
Kết quả, tiểu đội của Nguyễn Vi Hợi diệt 40 tên, bắt 46 tên, bắn cháy 9 xe tăng và xe bọc thép.
Riêng Nguyễn Vi Hợi diệt 21 tên và bắn cháy 6 xe.
Nhưng cuộc tiến quân chưa dừng lại ở Cheo Reo.
Những người lính tiếp tục truy kích.
Ngày 1 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Vi Hợi dẫn đầu tiểu đội tiến theo đường số 5, hướng về sân bay Đông Tác, Phú Yên.
Đối phương lúc này đang rút chạy trong tình trạng rối loạn.
Nguyễn Vi Hợi cùng đồng đội bám sát.
Tại khu vực sân bay Đông Tác, tiểu đội của ông bắt được tướng Cẩm, Phó tư lệnh Quân đoàn 2 của quân đội Việt Nam Cộng hòa, đồng thời kêu gọi 47 người khác hạ vũ khí.
Từ những con đường Tây Nguyên, bước chân của Nguyễn Vi Hợi tiếp tục hướng về phía Nam.
Đích đến cuối cùng của cuộc tiến quân đã hiện rõ:
Sài Gòn.
Ngày 29 tháng 4 năm 1975, chỉ còn một ngày trước thời khắc kết thúc chiến tranh, Nguyễn Vi Hợi cùng trung đội có mặt tại Cầu Bông, phía tây bắc Sài Gòn.
Lúc này, ông đã đảm nhiệm cương vị chỉ huy trung đội.
Đối phương liên tục tổ chức phản kích nhằm phá vỡ các chốt chặn của quân ta. Những đợt tiến công diễn ra quyết liệt.
Nguyễn Vi Hợi bình tĩnh chỉ huy đơn vị giữ vững đội hình.
Đợt phản kích này bị đánh lui.
Rồi một đợt khác lại tràn lên.
Trung đội vẫn bám chốt.
Không để đối phương phá vỡ trận địa.
Không để tuyến tiến quân bị cản trở.
Suốt những giờ chiến đấu quyết liệt ngày 29 tháng 4, Nguyễn Vi Hợi cùng đồng đội đánh lui nhiều đợt phản kích, giữ vững chốt Cầu Bông, góp phần bảo đảm cho các lực lượng tiến về Sài Gòn trong thời khắc quyết định của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.
Ngày hôm sau, 30 tháng 4, chiến dịch đi đến thắng lợi cuối cùng.
Nhìn lại chặng đường từ năm 1972 đến tháng 4 năm 1975, Nguyễn Vi Hợi đã tham gia chỉ huy tiểu đội, trung đội chiến đấu 14 trận, cùng đơn vị diệt 200 tên và bắt gần 300 tên.
Riêng ông được ghi nhận diệt 43 tên, bắt 120 tên, bắn cháy 6 xe tăng, xe bọc thép và thu 8 chiếc khác.
Nhưng phẩm chất của Nguyễn Vi Hợi không chỉ được thể hiện qua những trận đánh.
Trong đơn vị, ông luôn đoàn kết, gần gũi và giúp đỡ đồng đội cùng tiến bộ. Chính tinh thần ấy khiến người cán bộ trẻ được chiến sĩ trong đơn vị tin yêu.
Những thành tích của Nguyễn Vi Hợi được ghi nhận bằng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba và 4 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.
Ngày 15 tháng 1 năm 1976, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng Nguyễn Vi Hợi danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Cuộc đời chiến đấu của Nguyễn Vi Hợi gắn với một hành trình đặc biệt của mùa Xuân năm 1975:
Từ Cheo Reo trên đường số 7, ông cùng đồng đội chặn đoàn quân rút chạy.
Đến Đông Tác, ông dẫn đầu tiểu đội truy kích đối phương.
Và ngày 29 tháng 4, ông lại có mặt tại Cầu Bông – cửa ngõ Sài Gòn – giữ vững trận địa trước những đợt phản kích cuối cùng.
Từ núi rừng Tây Nguyên đến cửa ngõ Sài Gòn, người chiến sĩ trẻ Nguyễn Vi Hợi đã đi qua những ngày tháng quyết liệt nhất bằng lòng dũng cảm, sự mưu trí và tinh thần luôn tiến về phía trước.
Để rồi khi mùa Xuân năm 1975 khép lại trong ngày toàn thắng, trên hành trình lịch sử ấy cũng có dấu chân của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Vi Hợi.



