NGUYỄN VIẾT SINH – NGƯỜI “ĐI BỘ VÒNG QUANH TRÁI ĐẤT” TRÊN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN
Anh hùng LLVTND Nguyễn Viết Sinh (sinh năm 1942), quê Nam Đàn, Nghệ An, là một trong những chiến sĩ vận tải tiêu biểu của Đoàn 559 – Bộ đội Trường Sơn. Trong 1.089 ngày làm nhiệm vụ, ông vận chuyển hơn 55 tấn hàng, vượt tổng quãng đường 41.025km – xấp xỉ một vòng Trái Đất theo đường xích đạo. Bốn năm liên tục là Chiến sĩ thi đua, ba năm là “Kiện tướng mang vác”, ông được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất và ngày 1/1/1967 được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Nguyễn Viết Sinh sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê xã Nam Tân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông nhập ngũ tháng 11/1961. Khi được tuyên dương Anh hùng, ông là Chuẩn úy, Trung đội trưởng thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn thuyền, Binh trạm 3, Đoàn 559, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sinh ra trên quê hương Xô-viết Nghệ Tĩnh giàu truyền thống cách mạng, Nguyễn Viết Sinh sớm mang trong mình tinh thần yêu nước. Hai người anh trai lần lượt vào bộ đội, rồi đến lượt ông cũng tình nguyện khoác áo lính, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ nào được giao.
Không phải cầm súng trực tiếp nơi trận địa, chiến trường của Nguyễn Viết Sinh là những con đường Trường Sơn hun hút. Suốt 6 năm liên tục, công việc của ông là vận chuyển hàng hóa, đạn dược, lương thực ra phía trước và khi trở về lại khiêng cáng đưa thương binh về hậu cứ.
Những năm 1962-1963, phương tiện vận chuyển chủ yếu là đôi vai và đôi chân.
Mỗi ngày khoảng 5 giờ sáng, Nguyễn Viết Sinh đã khoác gùi lên vai, vượt dốc cao, vực sâu, băng qua những con suối giữa rừng Trường Sơn. Khoảng 4 giờ chiều trở về, ông lại cùng đồng đội chuẩn bị hàng cho chuyến đi ngày hôm sau.
Ban đầu, Sinh chỉ mang được khoảng 20kg. Nhưng ông kiên trì rèn luyện, nâng dần lên 26kg, 36kg rồi 46kg. Đặc biệt, trong đợt vận chuyển khẩn cấp tháng 8/1962, ông làm việc liên tục 29 ngày, mỗi ngày mang bình quân tới 52kg. Trên đường trở ra, thay vì nghỉ ngơi, ông còn xung phong cáng thương binh.
Năm 1964, Nguyễn Viết Sinh chuyển sang vận tải bằng xe thồ. Định mức mỗi ngày là 90kg, nhưng trong 80 ngày liên tục, ông đạt bình quân 100kg mỗi ngày.
Sang năm 1965, ông lại trở về với những chuyến gùi hàng. Trong chín tháng, trong khi chỉ tiêu quy định là 34kg, Nguyễn Viết Sinh mang bình quân 43kg mỗi chuyến.
Có những thời điểm tiểu đội chỉ còn ba người khỏe mạnh, trong khi thương binh, cán bộ cần đưa đón và nhiệm vụ hỏa tốc liên tục tăng lên. Sinh bàn với đồng đội tổ chức lại công việc, còn bản thân nhận đi nhiều chuyến hơn và những cung đường dài hơn.
Đầu năm 1966, ông chuyển sang vận chuyển bằng thuyền. Chỉ trong một tháng, Nguyễn Viết Sinh đã học được cách bơi, chèo và điều khiển thuyền để tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ. Trong một chuyến công tác, ông bị thương phải nằm viện. Nhưng khi nghe đơn vị có đợt vận chuyển đột xuất, vết thương chưa lành hẳn, ông vẫn xin ra viện để trở lại tuyến đường.
Những con số sau này đã nói lên sức lao động phi thường ấy.
Trong 1.089 ngày làm việc, Nguyễn Viết Sinh vận chuyển được hơn 55 tấn hàng, vượt qua tổng quãng đường 41.025km.
Con số ấy đặc biệt đến mức quãng đường ông đã đi xấp xỉ một vòng Trái Đất theo đường xích đạo.
Nhưng phía sau những con số không chỉ là sức khỏe. Đó còn là hàng nghìn ngày băng rừng, vượt suối, chịu đói rét, bệnh tật và hiểm nguy; là những gùi hàng được đưa tới chiến trường và những thương binh được đưa về phía sau.
Đồng đội gọi Nguyễn Viết Sinh là “Kiện tướng mang vác” của Đoàn 559. Ba năm liền ông giữ danh hiệu ấy, bốn năm liên tục là Chiến sĩ thi đua. Ông còn được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất, cùng 9 bằng khen và giấy khen.
Ngày 1/1/1967, Nguyễn Viết Sinh được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Câu chuyện Nguyễn Viết Sinh là một lát cắt đặc biệt của đường Trường Sơn huyền thoại. Có những chiến công được tạo nên bằng súng đạn, nhưng cũng có những chiến công được đo bằng từng bước chân, từng kilogram hàng hóa và những giọt mồ hôi của người lính vận tải.
Với Nguyễn Viết Sinh, hơn 41.000km đường Trường Sơn chính là hành trình của một người lính đã dùng đôi chân và đôi vai mình để góp phần nối hậu phương với tiền tuyến.


