Nguyễn Viết Xuân – Tấm gương hy sinh lẫm liệt vì bầu trời độc lập của Tổ quốc
Nguyễn Viết Xuân (1933 – 1964) là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, quê tại xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông nhập ngũ năm 1952, từng tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ và sau đó trở thành Thiếu úy, Chính trị viên Đại đội 3, Tiểu đoàn 14 Pháo cao xạ (Trung đoàn 280). Tên tuổi của ông gắn liền với chiến công lẫy lừng trong trận chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ tại vùng núi Cha Lo (tỉnh Quảng Bình) ngày 18 tháng 11 năm 1964. Mặc dù bị đạn địch làm giập nát đùi phải và thương nặng chân trái, ông vẫn nén đau đớn tột cùng, kiên quyết ở lại vị trí chỉ huy và hô vang khẩu lệnh lịch sử: "Nhằm thẳng quân thù mà bắn!". Lời hô đanh thép ấy đã trở thành biểu tượng tinh thần thi đua diệt giặc của Quân chủng Phòng không - Không quân và toàn thể quân dân cả nước. Ông anh dũng hy sinh ở tuổi 31 và được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 1967.

Nguyễn Viết Xuân sinh năm 1933 tại xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, trong một gia đình nông dân nghèo giàu truyền thống yêu nước. Lớn lên giữa những năm tháng đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, chứng kiến sự tàn phá của quân xâm lược, lòng căm thù giặc và khát vọng giành độc lập đã sớm nhen nhóm trong tâm hồn người thanh niên trẻ. Năm 1952, khi vừa tròn 19 tuổi, ông trốn gia đình nhập ngũ và trở thành chiến sĩ pháo binh. Ông từng trực tiếp tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ lẫy lừng năm 1954, trải qua những ngày tháng rèn luyện gian khổ và chiến đấu sinh tử nơi lòng chảo Mường Thanh. Bằng trí tuệ, kỷ luật thép cùng tinh thần trách nhiệm cao, Nguyễn Viết Xuân nhanh chóng trưởng thành, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và được bổ nhiệm làm Thiếu úy, Chính trị viên Đại đội 3, Tiểu đoàn 14 Pháo cao xạ (Trung đoàn 280).
Mùa thu năm 1964, Mỹ bắt đầu mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc nhằm đè bẹp ý chí đấu tranh và cắt đứt tuyến đường tiếp tế cho chiến trường miền Nam. Ngày 18 tháng 11 năm 1964, Đại đội pháo cao xạ do Nguyễn Viết Xuân làm Chính trị viên nhận nhiệm vụ bảo vệ vùng trời Cha Lo (tỉnh Quảng Bình) — một trọng điểm giao thông cực kỳ quan trọng và ác liệt trên con đường chiến lược. Đột nhiên, nhiều tốp máy bay phản lực hiện đại của Mỹ lao vào bắn phá dữ dội, dội hàng loạt bom đạn xuống trận địa hòng dập tắt hỏa lực của quân ta.
Trận chiến diễn ra căng thẳng đến mức nghẹt thở. Giữa làn mưa bom xối xả và tiếng gầm rú của máy bay địch, Nguyễn Viết Xuân vẫn bình tĩnh, kiên cường di chuyển qua từng khẩu đội để động viên chiến sĩ và chỉ huy bắn trả quyết liệt. Trong lúc trận đánh đang ở thời điểm cam go nhất, một quả đạn pháo địch nổ gần làm ông bị thương rất nặng: đùi phải bị đập giập nát, chân trái trúng nhiều mảnh đạn, máu chảy đầm đìa. Cơn đau thấu xương khiến ông ngất đi trong chốc lát, nhưng khi vừa tỉnh lại, thấy đồng đội có phần dao động trước làn đạn địch, ông đã kiên quyết từ chối rời vị trí chỉ huy để về tuyến sau cấp cứu. Với vết thương nát vụn, ông tự nén đau, yêu cầu đồng đội dùng gạc kẹp chặt vết thương rồi tịnh tiến sát lại mâm pháo, tiếp tục đứng vươn mình chỉ huy. Trong khoảnh khắc sinh tử ấy, tiếng hô vang đanh thép của ông rền vang khắp trận địa: "Nhằm thẳng quân thù mà bắn!".
Lời thề bất tử ấy như một luồng điện xốc lại tinh thần, tiếp thêm sức mạnh phi thường cho toàn thể pháo thủ. Mặc cho bom rơi đạn nổ, toàn đại đội giữ vững ý chí, giội hỏa lực chính xác lên bầu trời, bắn rơi nhiều máy bay địch và bảo vệ an toàn cho trọng điểm Cha Lo. Do vết thương quá nặng và mất máu quá nhiều, Anh hùng Nguyễn Viết Xuân đã anh dũng hy sinh ngay trên trận địa ở tuổi 31, để lại niềm tiếc thương vô hạn nhưng cũng đầy tự hào cho đồng đội và nhân dân.
Khẩu lệnh "Nhằm thẳng quân thù mà bắn!" của Nguyễn Viết Xuân ngay lập tức trở thành ngọn lửa truyền cảm hứng mãnh liệt, lan rộng thành phong trào thi đua diệt giặc lập công trong toàn Quân chủng Phòng không - Không quân và toàn thể quân dân cả nước. Năm 1967, ông vinh dự được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày nay, tên tuổi của ông không chỉ được trân trọng đặt cho nhiều đường phố, trường học trên khắp cả nước mà còn sống mãi như một biểu tượng bất tử về bản lĩnh kiên cường, lòng dũng cảm phi thường và khí tiết hiên ngang của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.


