NGUYỄN XUÂN NGUYÊN CỰU CHIẾN BINH

Có những thời khắc không trôi qua mà ở lại, khắc sâu trong tâm hồn con người. Với những người lính bảo vệ Tổ quốc, đó là những năm tháng sống và chiến đấu bằng cả lý tưởng và tuổi trẻ, trở thành nguồn sống không thể phai mờ. Những câu chuyện họ để lại là dấu ấn của lịch sử dân tộc. Một trong những con người ấy là cựu chiến binh, người lính cầm bút Nguyễn Xuân Nguyên, sinh năm 1950, một người con xứ Nghệ.
Câu chuyện của bác bắt đầu vào năm 1972 khi bác đi lính, dấn thân và tham gia “Mùa hè đỏ lửa” Quảng Trị. Nhưng không may, bác bị thương ở chân, sau đó được đưa về tuyến sau chữa bệnh.
Sau khi chữa trị, bác Nguyên được điều đi học sĩ quan, hạ sĩ quan rồi tiếp tục chiến đấu, đánh Mĩ-Ngụy, đánh giải phóng Tây Nguyên, Đông Dù, sân bay Tân Sơn Nhất,… Khi ấy bác nằm trong đơn vị Pháo 130 (Pháo hạng nặng của quân dân Việt Nam ta)
Bác không trực tiếp cầm súng ra chiến trường mà cầm trên tay bản đồ, bút và giấy để tác nghiệp, góp phần đánh giặc theo cách riêng của mình. Nhiệm vụ của bác gắn liền với những con số tọa độ, các hàm lượng giác, những vị trí, trận địa và mục tiêu của quân ta; từ đó tính toán đường đi, xác định tầm bắn và cho khai hỏa chính xác.
Trong những năm tháng chiến tranh, gian khổ và hiểm nguy luôn rình rập, nhưng tinh thần và ý chí chiến đấu của bác chưa bao giờ nguội tắt. Tại chiến trường Quảng Trị, dù bị thương và được lệnh điều về tuyến sau, bác vẫn mong muốn ở lại để tiếp tục chiến đấu. Chỉ đến khi nghĩ đến bụi đất nơi chiến trường có thể làm vết thương trở nặng, bác mới chấp nhận rút về hậu phương. Dẫu không trực tiếp cầm súng nơi tuyến đầu, bác vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, dốc lòng vì hòa bình của đất nước.
Bác cho biết rằng đi lính là xác định “một xanh cỏ, hai đỏ ngực”, xác định tư tưởng đi là phải hoàn thành nhiệm vụ, đi phải chiến đấu cho thật oai hùng, cho thật mạnh mẽ, chưa không phải là người đàn ông yếu đuối. Chiến tranh đặt những người lính trẻ vào ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Thế nhưng chính tinh thần hào hùng, bất khuất ấy đã lấn át mọi khắc nghiệt, khắc sâu nên vẻ đẹp anh dũng của người lính Việt Nam.
Tháng 12 năm 1977, bác kéo pháo về bảo vệ Tân Biên. Đến năm 1979, bác tiếp tục lên đường tham gia chiến đấu chống quân Pol Pot. Qua nhiều trận chiến ác liệt, bác không chỉ bị thương ở chân (1972), ở đầu (1981), mà còn bị chấn thương cột sống vào năm 1984. Chính vết thương này đã khiến bác không còn khả năng cử động một nửa cơ thể.
Bác cùng hai người anh ruột của mình, một người thuộc binh chủng Bộ binh, một người thuộc Phòng không. Ba anh em ở ba binh chủng khác nhau nhưng cùng chung một lý tưởng: chiến đấu vì đất nước, vì dân tộc. Chiến tranh khốc liệt đã giữ người anh Bộ binh lại vĩnh viễn nơi chiến trường, để giờ đây chỉ còn lại hai anh em bác Nguyên, một người Phòng không, một người Pháo binh, mang trên mình ký ức không thể phai mờ.
Cuộc sống của những người lính đi đôi với những căn hầm, với những bữa cơm chia nhau lúc nhiều lúc ít. Có gì là bác ăn đó khi thì gạo sấy, lương khô, khi thì có thịt hộp hay rau tày bay luộc, thậm chí có những ngày không ăn liên tiếp mấy ngày. Khi uống nước chỉ có thể nhấp một ngụm nhỏ mà chia nhau uống để cầm hơi. Bom đạn đánh xuống khu hậu cần, khiến người mất, lương thực cũng theo tro đất, không còn gì để mà ăn. Những lúc không có muối thì lấy tro hoà cùng nước nóng, lấy nước tro đó bỏ vào mà chấm ăn. Khi ấy muối khan hiếm, khổ cực nhiều, nhịn đói nhiều nhưng tất thảy đều chịu đựng, chịu khó, đều vượt qua được.
Đời lính với bác Nguyên tuy gian khổ, khắc nghiệt, nhưng cũng không thiếu những niềm vui giản dị. Giữa chiến trường ác liệt, bác và đồng đội vẫn hát hò bên tiếng kèn harmonica với những ca khúc quen thuộc như Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, Chào em cô gái Lam Hồng, hay Chiếc gậy Trường Sơn…
Bác Nguyên chia sẻ được hi sinh, được cống hiến cho đất nước, cho nhân dân, xã hội, được nhìn thấy thế hệ các cháu yên bình, ăn học, gia đình hạnh phúc là bác mừng. “Hi sinh đời bố, củng cố đời con” bây giờ con cháu được hưởng cái đó là cái hạnh phúc cho các cháu và các chấp nhận điều đó. Chiến tranh tất yếu có đau thương, có hy sinh — đó là quy luật. Nhưng như bác vẫn nói: “Nếu đời không yêu ta, ta vẫn yêu đời ta sống, ta vui vẻ”. Cuối cùng, bác gửi gắm lời nhắc nhở dành cho các bạn trẻ: “Vui trong tuổi trẻ, khoẻ trong tâm hồn, đẹp trong lí tưởng sáng trong tương lai”
Ngày hôm nay, khi chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ, những vết thương trên thân thể bác Nguyên vẫn còn đó như những chứng tích không thể xóa nhòa của một thời lửa đạn. Nhưng hơn cả những mất mát, điều còn lại rõ nét nhất nơi bác là tinh thần kiên cường, là niềm tin vào cuộc sống và lòng yêu nước sâu sắc chưa từng phai nhạt.
Câu chuyện đời lính của bác Nguyên không chỉ là ký ức của riêng một người lính, mà còn là hình ảnh tiêu biểu cho cả một thế hệ đã sẵn sàng dânh cả tuổi xuân, máu xương để đổi lấy hòa bình hôm nay. Sự hy sinh thầm lặng ấy nhắc nhở thế hệ trẻ phải biết trân trọng quá khứ, biết sống có trách nhiệm với hiện tại và tương lai của đất nước. Hòa bình không tự nhiên mà có, mà được đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, nước mắt và cả sinh mệnh của những người lính như bác.



