Nguyễn Xuân Nguyên: người giữ ánh sáng cho nhân dân qua hai cuộc chiến
Từ một phòng khám mắt thiếu thốn đến Viện Mắt đầu ngành, Giáo sư Nguyễn Xuân Nguyên dành bốn thập kỷ xây dựng chuyên khoa, đào tạo thầy thuốc và chống mù lòa cho cộng đồng.
Trong những năm đầu của nền y học cách mạng, chữa bệnh về mắt không chỉ là công việc trong một phòng khám. Đau mắt hột, nhiễm trùng và thiếu điều kiện điều trị khiến nhiều người mất dần thị lực; trong chiến tranh, thương binh và người dân lại càng khó tiếp cận bác sĩ chuyên khoa. Giáo sư Nguyễn Xuân Nguyên đã dành gần bốn thập kỷ để giải bài toán ấy. Ông vừa là thầy thuốc, nhà nghiên cứu, người đào tạo, vừa là nhà tổ chức đã góp phần đặt nền móng cho ngành nhãn khoa hiện đại Việt Nam.
Nguyễn Xuân Nguyên sinh ngày 21 tháng 1 năm 1907 tại làng Bùi Thôn, xã Quảng Giao, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Ngay từ khi còn là sinh viên năm thứ năm, ông đã được tuyển làm trợ lý giải phẫu, một vị trí đòi hỏi kiến thức vững và thao tác chính xác. Tháng 7 năm 1935, ông tốt nghiệp bác sĩ chuyên ngành mắt loại xuất sắc. Sau đó, ông được giữ lại hướng dẫn bệnh học lâm sàng nhãn khoa, rồi lần lượt đảm nhiệm các vị trí chuyên môn ở nhà thương chữa mắt Dốc Hàng Gà.
Bối cảnh y tế lúc ấy cho thấy sự bất bình đẳng rất rõ. Bác sĩ người Việt dù được đào tạo cùng hệ thống vẫn thường chỉ giữ vai trò phụ tá cho bác sĩ Pháp. Trong khi đó, mỗi ngày có hàng trăm người dân đến khám vì các bệnh về mắt, nhiều người đứng trước nguy cơ mù lòa, nhưng cơ sở vật chất và nhân lực đều thiếu. Nguyễn Xuân Nguyên vừa điều trị vừa nghiên cứu, tích lũy kinh nghiệm từ chính nhu cầu của người bệnh. Ngày 30 tháng 8 năm 1938, ông được cử thay bác sĩ Keller điều hành công việc của Viện Mắt, một dấu mốc quan trọng đối với một bác sĩ Việt Nam trong thời thuộc địa.
Từ năm 1936 đến năm 1938, ông làm hướng dẫn viên về bệnh học lâm sàng nhãn khoa; sau đó là chủ nhiệm khoa mắt, chủ nhiệm khoa ngoại trong giai đoạn 1939–1943, rồi giảng viên nhãn khoa kiêm Giám đốc Viện Mắt từ năm 1942 đến năm 1945. Điều đáng chú ý là phạm vi nghiên cứu của ông không chỉ giới hạn ở đôi mắt. Ông thực hiện các công trình về nội khoa, ngoại khoa, sản khoa, giải phẫu và nhân chủng học; riêng lĩnh vực giải phẫu học và nhân chủng học có 22 công trình, trong đó có những nghiên cứu cùng các giáo sư Huard, Đỗ Xuân Hợp và Tôn Thất Tùng.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Xuân Nguyên đem năng lực chuyên môn phục vụ chính quyền mới. Ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh tín nhiệm cử làm Giám đốc Y tế miền Duyên hải, đồng thời làm Giám đốc Bệnh viện Hải Phòng. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông không ở lại vùng đô thị để giữ điều kiện hành nghề thuận lợi mà đi theo kháng chiến. Cùng các đồng nghiệp, ông duy trì việc khám chữa bệnh và đào tạo trong hoàn cảnh phải di chuyển, thiếu thuốc, thiếu dụng cụ và thường xuyên đối diện nguy hiểm.
Trong chiến khu, một dụng cụ được bảo quản tốt, một y sĩ được hướng dẫn đúng kỹ thuật hay một ca bệnh được cứu khỏi mù lòa đều có giá trị thiết thực. Nguyễn Xuân Nguyên hiểu rằng một chuyên gia không thể phục vụ được cả đất nước nếu tri thức chỉ nằm trong tay mình. Vì thế, cùng với điều trị, ông đặc biệt chú trọng đào tạo cán bộ. Các lớp học, bộ môn và cơ sở chuyên khoa được gây dựng qua kháng chiến đã tạo ra lực lượng tiếp nối, để khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, ngành mắt có thể nhanh chóng củng cố và mở rộng mạng lưới.
Sau năm 1954, ông tiếp tục lãnh đạo việc xây dựng cơ sở nhãn khoa đầu ngành, đào tạo bác sĩ cho cả dân y và quân y. Hàng trăm cán bộ mắt quân đội qua nhiều thế hệ đã được Viện đào tạo và dìu dắt. Dưới sự tổ chức của ông, công tác nghiên cứu không tách khỏi bệnh tật phổ biến trong cộng đồng. Ông dành nhiều tâm huyết cho việc phòng chống bệnh mắt hột, cải tiến phương pháp chăm sóc mắt, biên soạn sách và tài liệu hướng dẫn để kiến thức có thể đi xa hơn một bệnh viện trung ương.
Nguyễn Xuân Nguyên là Viện trưởng đầu tiên của Viện Mắt và cũng là Chủ nhiệm Bộ môn Mắt đầu tiên của Trường Đại học Y Hà Nội. Hai vai trò ấy thể hiện cách ông kết nối điều trị với đào tạo: bệnh viện cung cấp những vấn đề thực tế cho khoa học, còn nhà trường tạo ra đội ngũ để chuyển các tiến bộ đến nhiều địa phương. Ông không chỉ chữa cho từng người bệnh mà xây dựng một hệ thống có khả năng bảo vệ thị lực cho cộng đồng lâu dài.
Mùa thu năm 1975, đất nước vừa thống nhất, ngành y tế đứng trước nhiệm vụ tổ chức lại mạng lưới chăm sóc mắt trên phạm vi cả nước. Nguyễn Xuân Nguyên vào miền Nam khảo sát và bàn việc đào tạo cán bộ. Trong chuyến công tác ấy, ông đột ngột lâm bệnh nặng và qua đời ngày 1 tháng 10 năm 1975 tại Thành phố Hồ Chí Minh, thọ 69 tuổi theo cách tính tuổi truyền thống. Ông mất ngay khi đang chuẩn bị đưa kinh nghiệm của miền Bắc hỗ trợ các cơ sở phía Nam, khép lại một cuộc đời gắn công việc chuyên môn với từng bước chuyển của đất nước.
Những đóng góp về tổ chức nghiên cứu, cải tiến kỹ thuật, biên soạn tài liệu và phòng chống bệnh mắt hột của ông về sau được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Nhưng di sản dễ nhận thấy nhất vẫn là một chuyên ngành đã có nền móng, một bệnh viện đầu ngành và nhiều thế hệ bác sĩ tiếp tục công việc bảo vệ ánh sáng cho người dân.
Câu chuyện Nguyễn Xuân Nguyên nhắc rằng giá trị của người thầy thuốc không chỉ được đo bằng số ca bệnh trực tiếp điều trị. Nó còn nằm ở số học trò được đào tạo, số địa phương có thêm cán bộ chuyên môn và số người được cứu khỏi bệnh tật nhờ một hệ thống được xây dựng đúng hướng. Từ phòng khám nhỏ ở Dốc Hàng Gà đến Viện Mắt Trung ương, ông đã biến tri thức của một cá nhân thành năng lực chung của cả ngành. Đó là một cách phụng sự thầm lặng nhưng có sức lan tỏa qua nhiều thế hệ.



