NGUYỄN XUÂN TÌNH – NGƯỜI ĐẶC CÔNG VƯỢT 16 LỚP RÀO
Anh hùng LLVTND Nguyễn Xuân Tình (sinh năm 1943), quê xã Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, nhập ngũ năm 1961, vào chiến trường miền Nam năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng, ông là Tiểu đoàn phó đặc công Đoàn 429, Quân khu 7. Hơn ba năm chiến đấu, ông được ghi nhận diệt 180 địch, trong đó có 120 lính Mỹ; phá hủy 11 xe cơ giới, hơn 30 hầm ngầm, lô cốt và 3 kho xăng. Nổi bật là những trận đánh ở Bình Dương, căn cứ Téc-ních, Lai Khê, Dầu Tiếng và Cà Tum, nơi ông thể hiện bản lĩnh của người lính đặc công: bí mật tiếp cận, trinh sát kỹ, xử trí linh hoạt và quyết đoán trong những tình huống hiểm nghèo. Ngày 10/2/1970, Nguyễn Xuân Tình được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Sinh năm 1943 tại xã Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Xuân Tình lớn lên trong những năm miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng xã hội mới. Được gia đình, nhà trường và xã hội giáo dục về trách nhiệm của tuổi trẻ đối với đất nước, năm 18 tuổi ông tình nguyện nhập ngũ.
Đến năm 1965, Nguyễn Xuân Tình được phân công vào miền Nam chiến đấu.
Từ đây, cuộc đời người thanh niên Hà Tĩnh gắn với lực lượng đặc công – một binh chủng mà mỗi nhiệm vụ đều đòi hỏi sự bí mật, sức chịu đựng, khả năng quan sát và đặc biệt là bản lĩnh xử trí trong những tình huống bất ngờ.
Chỉ trong hơn ba năm ở chiến trường, Nguyễn Xuân Tình tham gia nhiều trận đánh, được ghi nhận diệt 180 địch, trong đó có 120 lính Mỹ; bắt 2 tù binh, thu 2 súng, phá hủy hơn 30 hầm ngầm và lô cốt, 3 kho xăng, 11 xe cơ giới, trong đó có 9 xe tăng và xe bọc thép.
Nhưng phía sau những con số ấy là nhiều câu chuyện đặc biệt về một người lính luôn tìm cách hoàn thành nhiệm vụ trong những thời điểm tưởng như không còn phương án nào thuận lợi.
Ngày 3 tháng 3 năm 1966, trong trận chiến đấu phối hợp chi viện cho lực lượng binh sĩ yêu nước thuộc Trung đoàn 1 thiết giáp đối phương khởi nghĩa tại Bình Dương, Nguyễn Xuân Tình đã có một quyết định rất táo bạo.
Ông chiếm được một chiếc xe tăng M.41, rồi sử dụng ngay khẩu súng 12,7 mm trên xe để đánh lực lượng phản kích.
Phía đối phương lập tức điều thêm hai chiếc M.41 từ sở chỉ huy ra.
Trước hai xe tăng đang tiến tới, Nguyễn Xuân Tình không rời vị trí.
Ông nhanh chóng lựa chọn địa hình có lợi, sử dụng B.40, bình tĩnh chờ thời cơ rồi lần lượt bắn hạ cả hai xe.
Sau đó, theo lệnh cấp trên, ông tiếp tục chuyển sang chi viện cho mũi bạn tiến công khu vực tập trung xe M.113.
Nhưng một trong những trận đánh thể hiện rõ nhất bản lĩnh của Nguyễn Xuân Tình diễn ra vào tháng 7 năm 1967, tại căn cứ Téc-ních, mở màn cho chiến dịch Bình Long.
Ông được giao làm mũi phó, phụ trách mở cửa để lực lượng phía sau tiến công.
Các lớp hàng rào lần lượt được phá.
Chỉ còn lớp cuối cùng.
Đúng thời điểm quyết định, khối bộc phá lại không nổ.
Nếu dừng lại xử lý, đội hình phía sau có thể bị hỏa lực đối phương ghìm lại ngay trước cửa mở.
Nguyễn Xuân Tình lập tức đưa ra một cách xử trí đầy táo bạo.
Ông ôm ống bộc phá, đè hàng rào xuống, tạo điều kiện cho đồng đội vượt qua và tiếp tục đánh sâu vào căn cứ.
Khi người chỉ huy mũi hy sinh, Nguyễn Xuân Tình lập tức thay thế, tiếp tục chỉ huy lực lượng đánh vào khu vực xe cơ giới.
Phát hiện mũi bạn đang gặp khó khăn khi đánh sở chỉ huy, ông dùng B.40 trực tiếp diệt hỏa điểm đang ngăn chặn, tạo điều kiện để đồng đội tiếp tục tiến công.
Trận đánh hoàn thành mục tiêu.
Nhưng nhiệm vụ của Nguyễn Xuân Tình vẫn chưa kết thúc.
Ông cùng một số chiến sĩ được giao ở lại phía sau kiểm tra chiến trường và yểm hộ các mũi rút quân.
Đúng lúc ấy, lực lượng tiếp viện với khoảng 60 xe tăng và xe bọc thép tiến hành phản kích.
Trong khi đó, tổ của Nguyễn Xuân Tình chỉ còn:
một khẩu B.40, sáu quả đạn và một ít đạn tiểu liên.
Trước sự chênh lệch rất lớn về lực lượng và phương tiện, ông vẫn bình tĩnh tổ chức chiến đấu.
Nguyễn Xuân Tình trực tiếp sử dụng B.40.
Năm quả đạn được bắn đi.
Bốn xe bị diệt.
Một con đường thoát khỏi căn cứ được mở ra.
Nhưng khi tổ chiến đấu vừa tới cửa mở, họ lại gặp ba xe đang dùng hỏa lực chặn lối.
Lúc này trong tay Nguyễn Xuân Tình chỉ còn một quả đạn chống tăng.
Giữa tình thế nguy cấp ấy, ông chợt nhớ: khi đơn vị tiến vào căn cứ, tại khu vực cửa mở có một chiến sĩ mang đạn B.40 đã bị thương.
Có thể vẫn còn đạn ở đó.
Nguyễn Xuân Tình lập tức quay lại tìm.
Và ông tìm thấy:
hai quả đạn B.40.
Phối hợp với lực lượng giữ cửa mở, ông tiếp tục chiến đấu, bắn diệt thêm hai xe, chiếc còn lại phải rút chạy.
Vòng vây bị phá.
Tổ chiến đấu rút khỏi căn cứ.
Khả năng quan sát, ghi nhớ từng chi tiết trên chiến trường của Nguyễn Xuân Tình đã góp phần giúp đồng đội thoát khỏi một tình huống đặc biệt nguy hiểm.
Nhưng với người lính đặc công, chiến đấu chỉ là một phần nhiệm vụ.
Muốn có một trận đánh thành công, trước đó phải có những người bí mật vượt qua hàng rào, bãi mìn, vọng gác để điều tra mục tiêu.
Và Nguyễn Xuân Tình đặc biệt nổi bật trong công việc ấy.
Tháng 12 năm 1967, sau khi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu căn cứ Lai Khê, ông tiếp tục được giao điều tra căn cứ Dầu Tiếng.
Ngày nổ súng đã đến gần nhưng vẫn còn một hướng chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Nguyễn Xuân Tình được giao dẫn hai chiến sĩ đi thực hiện nhiệm vụ.
Dọc đường, cả hai người đi cùng đều bị ốm và phải ở lại.
Phía trước là căn cứ đối phương.
Phía sau là yêu cầu phải có thông tin để trận đánh diễn ra đúng kế hoạch.
Nguyễn Xuân Tình quyết định:
đi một mình.
Trong một đêm, ông bí mật đột nhập, vượt qua 5 lớp hàng rào, tránh các lô cốt và vị trí canh phòng, tiến vào tận khu vực mục tiêu chính để xác định hướng tiến công.
Những thông tin ông mang về sau đó được sử dụng phục vụ cấp trên tổ chức hai trận đánh thắng lợi.
Chưa đầy nửa năm sau, thử thách còn lớn hơn xuất hiện.
Tháng 4 năm 1968, Nguyễn Xuân Tình vừa điều trị tại bệnh viện trở về đơn vị.
Thời điểm tiến công trại biệt kích Cà Tum đã đến gần, nhưng bộ phận trinh sát vẫn chưa tiếp cận được vị trí chính.
Nguyễn Xuân Tình nhận nhiệm vụ.
Lần này trước mặt ông không phải năm lớp hàng rào.
Mà là:
16 LỚP RÀO.
Ông dẫn tổ trinh sát bí mật luồn qua toàn bộ hệ thống phòng thủ, tiến sâu vào bên trong, nắm tình hình và xác định cách đánh.
Nhờ kết quả trinh sát ấy, phương án tiến công được hoàn thiện.
Khi trận đánh bắt đầu, Nguyễn Xuân Tình được giao chỉ huy mũi chủ yếu.
Các hướng khác phát triển tương đối thuận lợi, nhưng riêng mũi của ông lại bị hỏa lực đối phương chặn rất mạnh.
Tiến thẳng sẽ khó khăn.
Dừng lại sẽ mất thời cơ.
Nguyễn Xuân Tình lập tức thay đổi cách đánh.
Ông điều tổ dự bị đánh vòng vào sở chỉ huy.
Đòn tiến công bất ngờ từ phía trong khiến đội hình phòng thủ rối loạn, tạo điều kiện cho lực lượng chủ yếu thọc sâu.
Kết quả, đơn vị đánh chiếm sở chỉ huy và tiêu diệt một đại đội biệt kích gồm 185 người theo tài liệu tuyên dương.
Từ những trận đánh ấy, hình ảnh Nguyễn Xuân Tình hiện lên không chỉ như một người lính dũng cảm.
Điểm nổi bật hơn cả là khả năng xử trí tình huống.
Bộc phá không nổ – ông tìm cách tạo cửa mở.
Bị xe tăng bao vây – ông tận dụng từng quả B.40 còn lại.
Hết đạn chống tăng – ông nhớ lại vị trí người chiến sĩ bị thương để quay lại tìm đạn.
Đồng đội không thể tiếp tục nhiệm vụ trinh sát – ông một mình vượt năm lớp rào.
Một hướng tiến công bị hỏa lực khóa chặt – ông lập tức điều lực lượng vòng đánh sở chỉ huy.
Đó là phẩm chất đặc biệt quan trọng của người lính đặc công: không chỉ gan dạ mà phải quan sát kỹ, suy nghĩ nhanh và tìm ra cách giải quyết ngay trong những tình huống khắc nghiệt nhất.
Trong sinh hoạt và công tác, Nguyễn Xuân Tình được đánh giá là người nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, có tác phong sâu sát, luôn đi đầu trong nhiệm vụ khó và hết lòng giúp đỡ đồng đội.
Ông được tặng 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba, 16 bằng khen và giấy khen; tổng cộng 19 lần được tặng các danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ Quyết thắng và Dũng sĩ diệt xe cơ giới.
Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng Nguyễn Xuân Tình danh hiệu:
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Từ người thanh niên Hà Tĩnh nhập ngũ ở tuổi 18 đến người cán bộ đặc công từng một mình đột nhập căn cứ và dẫn đồng đội vượt qua 16 lớp hàng rào, Nguyễn Xuân Tình đã trưởng thành bằng chính những nhiệm vụ hiểm nguy nhất của chiến trường.
Và có lẽ hình ảnh tiêu biểu nhất về ông nằm ở một đặc điểm xuyên suốt những trận đánh ấy:
Khi con đường trước mặt tưởng như đã bị khóa lại, Nguyễn Xuân Tình luôn tìm ra một con đường khác để hoàn thành nhiệm vụ.



