Bài viết

Nguyễn Xuân Viên – trở lại Côn Đảo để giữ những dấu tích của đồng đội Một cựu tù trở lại nơi từng bị giam để làm công tác bảo tàng và gìn giữ ký ức.

NGUYỄN THỊ MINH KHAI – VỮNG CHÍ BỀN GAN GIỮA NHỮNG NGÀY TỐI LỬACâu chuyện về Nguyễn Thị Minh Khai (1910–1941), nữ chiến sĩ cách mạng quê Nghệ An, từng giữ cương vị Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn. Qua những năm tháng hoạt động bí mật, những ngày bị giam cầm và bốn câu thơ thể hiện ý chí kiên định, câu chuyện khắc họa một tuổi trẻ đã dành trọn cuộc đời cho lý tưởng đấu tranh vì độc lập dân tộc Mẹ Nguyễn Thị Thứ - Người mẹ của những năm tháng không quên Câu chuyện kể về Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ, người mẹ giàu lòng yêu nước đã chịu nhiều mất mát trong chiến tranh. Sự hy sinh của Mẹ là biểu tượng thiêng liêng của lòng yêu nước, đức hy sinh và truyền thống " Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam. Anh hùng Lực lượng vũ trang Biểu tượng sáng ngời về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần bất khuất của Nguyễn Văn Trỗi Lê Thành Duy – người đội trưởng trinh sát được nhớ bên sông Dinh Nguyễn Xuân Viên – trở lại Côn Đảo để giữ những dấu tích của đồng đội Một cựu tù trở lại nơi từng bị giam để làm công tác bảo tàng và gìn giữ ký ức.

Đồng Nai27/10/2026Chi đoàn 10D2 - THPT Tân Kỳ (Đoàn xã Tân Kỳ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

CHUYỆN THỜI HOA LỬA | NGUYỄN THỊ MINH KHAI – VỮNG CHÍ BỀN GAN GIỮA NHỮNG NGÀY TỐI LỬA

Có những người dành cả tuổi thanh xuân để viết nên tương lai cho dân tộc. Và cũng có những người, dù đứng trước ranh giới sinh tử, vẫn không từ bỏ lý tưởng mà mình đã chọn.

Nguyễn Thị Minh Khai (1910–1941), tên khai sinh là Nguyễn Thị Vịnh, quê ở Vinh, Nghệ An, là một trong những nữ chiến sĩ cách mạng tiêu biểu của Việt Nam. Từ khi còn rất trẻ, bà đã dấn thân vào con đường đấu tranh, sau này đảm nhiệm cương vị Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn.

Tháng 7/1940, giữa những ngày phong trào cách mạng bị đàn áp khốc liệt, bà bị thực dân Pháp bắt giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Trong cảnh tù đày, khi phải đối diện với án tử hình, người nữ chiến sĩ ấy vẫn giữ vững tinh thần, tiếp tục động viên đồng chí và truyền lại kinh nghiệm đấu tranh cho những người cùng cảnh ngộ.

Những ngày cuối đời, bà để lại trên tường xà lim bốn câu thơ như lời nhắn gửi đến những người tiếp bước:

“Vững chí bền gan, ai hỡi ai
Kiên tâm giữ dạ mới anh tài
Thời cuộc đẩy đưa người chiến sĩ
Con đường cách mạng vẫn chông gai.”

Bốn câu thơ không chỉ thể hiện ý chí kiên định của một người chiến sĩ trước nghịch cảnh, mà còn gợi nhắc về những hy sinh thầm lặng phía sau hai chữ độc lập.

Sáng ngày 28/8/1941, Nguyễn Thị Minh Khai bị thực dân Pháp xử bắn tại Hóc Môn khi mới 31 tuổi. Cuộc đời bà khép lại, nhưng tinh thần kiên trung và những cống hiến cho cách mạng vẫn được lưu giữ trong ký ức lịch sử dân tộc.

🌻 Nhìn lại câu chuyện của Nguyễn Thị Minh Khai, chúng ta hiểu rằng: tuổi trẻ không chỉ được đo bằng những năm tháng đã sống, mà còn bằng điều ta lựa chọn theo đuổi và những giá trị ta để lại.

Giữa cuộc sống hôm nay, khi người trẻ có nhiều cơ hội để học tập, phát triển và thực hiện ước mơ, câu chuyện của những thế hệ đi trước nhắc chúng ta biết trân trọng hòa bình, sống có trách nhiệm và không ngừng nỗ lực vì những điều tốt đẹp.

ẹ Thứ, một đời tiễn con đi và đợi những người mãi mãi không trở về

🇻🇳

Trong một bức ảnh tư liệu về Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ, trước mặt Mẹ là mâm cơm với chín chiếc bát, chín đôi đũa. Một hình ảnh giản dị đến xót xa, bởi chín chiếc bát ấy gợi nhớ đến chín người con trai của Mẹ đã hy sinh trong chiến tranh, chín người con mà Mẹ chẳng còn cơ hội được đón về trong một bữa cơm đoàn tụ.

Mẹ Nguyễn Thị Thứ sinh năm 1904, quê ở Điện Bàn, Quảng Nam. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Mẹ đã chịu đựng những mất mát không gì có thể bù đắp khi chín người con trai, một người con rể và hai cháu ngoại lần lượt hy sinh vì Tổ quốc. Phía sau những con số ấy là biết bao lần tiễn biệt, những năm tháng mong ngóng tin tức và nỗi đau của một người mẹ phải sống tiếp khi những đứa con mình sinh ra, nuôi lớn đã mãi mãi không thể trở về.

Người ta thường nhắc đến Mẹ Thứ bằng sự kính trọng dành cho một Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Nhưng trước khi trở thành biểu tượng của sự hy sinh, Mẹ cũng là một người phụ nữ bình dị, có một mái nhà, có những đứa con từng lớn lên trong vòng tay mình. Chiến tranh không chỉ cướp đi những người lính nơi chiến trường, mà còn để lại phía sau những người mẹ phải học cách sống cùng khoảng trống không gì lấp đầy được.

Điều đáng kính trọng là giữa những mất mát ấy, Mẹ vẫn cùng gia đình bám đất, bám làng, đào hầm bí mật trong vườn nhà để nuôi giấu, che chở cho cán bộ và chiến sĩ cách mạng. Trong khu vườn ấy từng có năm căn hầm bí mật, nơi nhiều người lính được bảo vệ giữa những ngày tháng chiến tranh khốc liệt. Mẹ không chỉ tiễn những người con của mình ra trận, mà còn góp sức chở che cho biết bao người con khác của đất nước.

Năm 2010, Mẹ Thứ qua đời, khép lại một cuộc đời hơn một thế kỷ với những mất mát và cống hiến lớn lao. Nhưng câu chuyện của Mẹ vẫn được lưu giữ, không chỉ trong những trang sử mà còn qua công trình Tượng đài Bà mẹ Việt Nam Anh hùng tại Tam Kỳ, được khánh thành năm 2015, lấy chân dung Mẹ làm nguyên mẫu.

Giữa không gian rộng lớn, gương mặt Mẹ được khắc vào đá, như một lời tưởng nhớ không chỉ dành riêng cho Mẹ Thứ mà còn cho biết bao Bà mẹ Việt Nam Anh hùng trên khắp đất nước. Những người đã tiễn chồng, tiễn con ra chiến trường, có người may mắn đón được người thân trở về, nhưng cũng có những người phải mang theo nỗi đợi chờ cho đến tận cuối đời.

Đất nước ghi nhớ những người lính đã hy sinh, nhưng cũng không thể quên những người mẹ đã dành cả cuộc đời yêu thương, chờ đợi và chịu đựng nỗi đau mất đi những người thân yêu nhất.

Hôm nay, khi chúng ta được sống trong hòa bình, được trở về nhà sau mỗi ngày làm việc, được ngồi bên mâm cơm có đủ những người mình thương, có lẽ càng cần nhớ rằng đã có những gia đình phải đánh đổi chính những điều bình thường ấy để đất nước có được ngày hôm nay.

Và sau tất cả, điều khiến người ta day dứt khi nghĩ về Mẹ Thứ vẫn là mâm cơm với chín chiếc bát, chín đôi đũa. Một mâm cơm nhắc chúng ta rằng phía sau những trang sử hào hùng còn có những mất mát rất đỗi con người, những cuộc đoàn tụ không bao giờ thành hiện thực.

Xin nghiêng mình trước Mẹ Thứ và những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Cảm ơn các Mẹ đã dành cho đất nước những điều quý giá nhất của cuộc đời mình. Mong rằng lòng biết ơn ấy sẽ không chỉ được thể hiện trước những tượng đài, mà còn được gìn giữ qua cách mỗi thế hệ trân trọng hòa bình, ghi nhớ lịch sử và chăm lo cho những người có công với đất nước.

Mẹ đã đi xa, nhưng tên tuổi và những hy sinh của Mẹ sẽ còn được nhiều thế hệ nhắc nhớ

Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi là biểu tượng sáng ngời cho chí khí lẫm liệt và lòng yêu nước nồng nàn của tuổi trẻ Việt Nam. Là người chiến sĩ biệt động Sài Gòn kiên cường, anh đã hiên ngang thực hiện nhiệm vụ đánh mục tiêu cao cấp của địch để bảo vệ quê hương. Dù bị bắt và tra tấn dã man, anh vẫn giữ vững khí tiết cách mạng, không một lời khai báo. Phút cuối cùng tại pháp trường Chí Hòa vào ngày 15/10/1964, anh Trỗi đã giật băng bịt mắt để nhìn đất nước, hô vang những lời đanh thép đả đảo đế quốc, ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự hy sinh bất khuất của anh ở tuổi 24 đã trở thành ngọn lửa truyền cảm hứng mãnh liệt cho bao thế hệ thanh niên giữ nước.

Lê Thành Duy sinh năm 1922 tại Bà Rịa. Từ những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông tham gia Quốc gia tự vệ cuộc của tỉnh, rồi đảm nhiệm vai trò Đội trưởng Đội trinh sát Quốc vệ đội thuộc Ty Công an Bà Rịa.

Báo Công an nhân dân ghi lại rằng tháng 5/1946, ông bị quân Pháp bắt tại khu vực Núi Nứa – Bà Trao và đưa về giam ở Vũng Tàu. Trước những cuộc tra hỏi và sự vận động từ người thân, ông vẫn giữ kín thông tin về tổ chức. Ngày 28/5/1946, ông bị xử bắn tại đầu cầu Long Hương bên sông Dinh.

Nhiều thập niên sau, chân dung Lê Thành Duy được dựng tại phòng tưởng niệm của Câu lạc bộ Công an hưu trí tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Để thực hiện bức tượng, nghệ sĩ điêu khắc tìm đến gia đình, xem ảnh và nghe người thân mô tả.

Từ ký ức gia đình đến không gian tưởng niệm, cuộc đời ngắn ngủi của người đội trưởng tiếp tục được kể lại cho thế hệ sau.

Nguồn: Nguyễn Trang, Báo Công an nhân dân, “Khắc ghi công ơn người anh hùng”, 17/8/2017.

Nguyễn Xuân Viên sinh năm 1944, quê Quảng Nam, tham gia du kích từ năm 1965. Sau khi bị bắt và chuyển qua nhiều nhà lao, ông bị đưa ra Côn Đảo, chịu cảnh giam cầm cho đến ngày giải phóng.

Theo cuộc phỏng vấn của báo Tiền Phong, sau chiến tranh ông về quê rồi trở lại đảo theo lời gọi của đồng đội. Ông được phân công làm công tác bảo tàng, bảo vệ những di tích nhà tù mà chính mình từng trải qua.

Công việc ấy đặt người cựu tù trước những dấu tích đau thương mỗi ngày. Nhưng việc gìn giữ chúng giúp người đến sau hiểu đời sống của tù nhân và nhớ những người không trở về. Những cuộc gặp giữa các cựu tù, những lần tưởng niệm đồng đội tiếp tục nối ông với hòn đảo.

Câu chuyện của Nguyễn Xuân Viên cho thấy một cách tiếp nối trách nhiệm sau chiến tranh: trở lại nơi gắn với mất mát để bảo vệ chứng tích và kể lại điều mình đã sống.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Nguyễn Xuân Viên – trở lại Côn Đảo để giữ những dấu tích của đồng đội Một cựu tù trở lại nơi từng bị giam để làm công tác bảo tàng và gìn giữ ký ức. | Câu chuyện thời hoa lửa