Nhà bác học duy nhất nào của Việt Nam thông thạo 26 ngoại ngữ ở tuổi 25?
Trương Vĩnh Ký (1837-1898), hay còn gọi là Petrus Ký, là một trong những học giả tiêu biểu của Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX. Ông được biết đến với vốn tri thức rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, bao gồm ngôn ngữ, văn hóa, giáo dục, lịch sử và khoa học xã hội.
Nhà bác học duy nhất nào của Việt Nam thông thạo 26 ngoại ngữ ở tuổi 25?
Với khả năng sử dụng thành thạo tới 26 ngoại ngữ, Trương Vĩnh Ký được xem là một trong những học giả lỗi lạc bậc nhất Việt Nam thế kỷ XIX. Ông từng được phong hàm Giáo sư Viện sĩ của Pháp và có tên trong Bách khoa Tự điển Larousse danh tiếng. Năm 1874, Trương Vĩnh Ký được giới học thuật quốc tế đánh giá là “nhà bác học ngôn ngữ”, đồng thời được xếp vào danh sách 18 học giả nổi bật của thế giới trong thế kỷ XIX.
Quá trình tự học và khả năng ngôn ngữ từ sớm
Theo các tư liệu lịch sử, Trương Vĩnh Ký bộc lộ tư chất thông minh từ khi còn nhỏ. Mới 3 tuổi, ông đã thuộc Tam Kinh, 4 tuổi bắt đầu học viết và đến 5 tuổi theo học chữ Nho, chữ Nôm. Chỉ sau vài năm, ông đã đọc thông Tứ thư, Ngũ kinh, ghi nhớ nhiều thơ Đường, thơ Tống cùng các bài ca dao dài.

Năm 1846, ông bắt đầu học tiếng Latin và tiếng Pháp tại Cái Nhum (Vĩnh Long) với một người Pháp tên là Borelle (tên tiếng Việt là Thừa Hòa). Sau đó, con đường học tập của ông tiếp tục nhận được sự hỗ trợ từ một người Pháp khác là Bouilleaux (tên tiếng Việt là Cố Long).
Đến năm 11 tuổi (năm 1848), Trương Vĩnh Ký được đưa sang học tại chủng viện Pinhalu ở Phnom Penh, Campuchia. Là học sinh nhỏ tuổi nhất trong lớp học gồm 25 học sinh đến từ nhiều quốc gia châu Á như Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar, Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, môi trường đa ngôn ngữ này đã giúp ông sớm làm quen và sử dụng thành thạo các ngôn ngữ trong khu vực.
Ngoài chương trình học chính khóa, ông tự nghiên cứu ngoại ngữ qua sách và từ điển trong thư viện. Các nhà ngôn ngữ học đương thời nhận định rằng Trương Vĩnh Ký đã tự tìm ra quy luật tương đồng và khác biệt giữa các hệ ngôn ngữ để rút ngắn thời gian tiếp thu. Sau khi hoàn thành khóa học tại Pinhalu với kết quả xuất sắc nhất lớp, ông được chọn để tiếp tục sang Penang, Malaysia học nâng cao.

Tại Penang, ông tiếp tục tự học tiếng Nhật và tiếng Ấn bằng cách sưu tầm báo cũ, đối chiếu ngữ pháp và phân tích cấu trúc ngôn ngữ. Nhà nhiếp ảnh người Anh J.Thomson, trong tác phẩm “Mười năm du lịch Trung Quốc và Đông Dương”, đã ghi lại:
“Một lần đến thăm Trương Vĩnh Ký, tôi thấy ông đang biên soạn sách Phân tích so sánh các ngôn ngữ chủ yếu trên thế giới. Đây là công trình mà ông đã dành nhiều năm lao động miệt mài. Xung quanh ông là vô số sách quý và hiếm được sưu tầm từ châu Âu và châu Á...”.
Ở tuổi 25, Trương Vĩnh Ký đã làm chủ nhiều ngôn ngữ Đông Southeast Á cùng các ngoại ngữ phổ biến khác như Anh, Pháp, Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hy Lạp và Latin. Vào năm 1862, nhà văn Pháp Émile Littré từng nhận xét rất hiếm có người thứ hai như say mê ngôn ngữ như Trương Vĩnh Ký. Khi giao tiếp với ai, ông đều phát âm đúng theo âm luật của từng quốc gia. Sự am hiểu tới 26 ngoại ngữ của Trương Vĩnh Ký đủ để nhân loại tôn vinh ông như một nhà bác ngữ học hàng đầu của thời đại.

Người tiên phong phát triển chữ Quốc ngữ và văn hóa dân tộc
Không chỉ dừng lại ở năng lực ngôn ngữ, Trương Vĩnh Ký là một trong những người đi đầu trong việc truyền bá và phát triển chữ Quốc ngữ tại Việt Nam. Ông tích cực cổ vũ việc đưa chữ Quốc ngữ vào sách báo, đồng thời khai thác hiệu quả loại chữ viết này trong sáng tác, nghiên cứu, dịch thuật và hoạt động báo chí.
Ông đã thực hiện việc phiên âm sang chữ Quốc ngữ nhiều tác phẩm văn học cổ nổi tiếng của Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần, Gia huấn ca, Lục súc tranh công..., đồng thời dịch các tác phẩm chữ Hán và biên soạn một số cuốn sách như Chuyện đời xưa và Chuyện khôi hài.
Trong lĩnh vực báo chí, Trương Vĩnh Ký đảm nhận vai trò tổ chức và quản lý Gia Định Báo – tờ báo viết bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam. Tờ báo này hoạt động trong hơn 44 năm (từ tháng 4/1865 đến ngày 1/1/1910), đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử báo chí nước nhà và là minh chứng cho hoạt động truyền thông bằng chữ Quốc ngữ trong giai đoạn giao thoa văn hóa Đông - Tây.

Ngoài ra, ông còn đề xướng thành lập Học viện Đông Dương (École française d'Extrême-Orient) vào năm 1898. Trong suốt 40 năm hoạt động bền bỉ (1858-1898), ông đã để lại cho hậu thế 118 tác phẩm bao gồm các công trình nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật và phiên âm, trong đó có hàng chục tác phẩm được viết bằng tiếng Pháp.
Những đánh giá đa chiều từ lịch sử
Sự nghiệp và đóng góp của Trương Vĩnh Ký đã nhận được nhiều nhận định từ các học giả và nhà nghiên cứu.
Nhà nghiên cứu J.Bouchot từng đánh giá Trương Vĩnh Ký là một nhà bác học duy nhất ở Đông Dương và cho chí ở nước Trung Hoa hiện đại.
Học giả Nguyễn Văn Tố đã đúc kết cuộc đời và sự nghiệp của ông qua ba cụm từ: “Bác học, Tâm thuật, Khiêm tốn”.
Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan cũng khẳng định: “Trương Vĩnh Ký thực sự là một nhà bác học. Không chỉ là nhà văn, nhà viết sử, nhà dịch thuật mà ông còn là người đặc biệt giỏi về ngôn ngữ”.

Bên cạnh những ghi nhận tích cực, vai trò lịch sử của Trương Vĩnh Ký vẫn tồn tại những luồng ý kiến thảo luận khác nhau. Một số nhà nghiên cứu như Lê Thanh, Trần Huy Liệu, Phạm Long Điền hay Nguyễn Sinh Duy từng chỉ ra khía cạnh hợp tác của ông với thực dân Pháp trong bối cảnh lịch sử thời bấy giờ. Mặc dù vậy, những di sản học thuật mà Trương Vĩnh Ký để lại cho nền ngôn ngữ, giáo dục, báo chí và văn hóa vẫn được ghi nhận là một dấu ấn quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX.



