Nhà bác học Lê Quý Đôn - Tấm gương về tinh thần học tập
Lê Quý Đôn sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ (tức 2 tháng 8 năm 1726) tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay là xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).
Ngay từ nhỏ, ông đã bộc lộ tư chất ham học, thông minh, có trí nhớ tốt, được người đương thời coi là "thần đồng". Năm Kỷ Mùi, ông theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long. Năm Quý Hợi 1743, ông dự thi Hương và đỗ đầu lúc 18 tuổi. Năm 27 tuổi (Nhâm Thân 1752), ông dự thi Hội, và lần này thì đỗ Hội nguyên. Vào thi Đình, ông đỗ Bảng nhãn. Vì kỳ thi này không lấy đỗ Trạng nguyên, nên kể như cả ba lần thi, ông đều đỗ đầu.
Sau khi đỗ đại khoa, cuộc đời quan trường của Lê Quý Đôn bắt đầu với chức Thị thư ở Viện Hàn Lâm vào năm Quý Dậu (1753) sau làm Toản tu quốc sử. Năm Kỷ Mão (1759), vua Lê Ý Tông mất, triều đình cử ông làm Phó sứ, tước Dĩnh Thành bá, để cùng với Trần Huy Mật, Trịnh Xuân Chú cầm đầu phái đoàn sang nhà Thanh (Trung Quốc) báo tang và nộp cống. Trên đường sang Yên Kinh (nay là Bắc Kinh), Lê Quý Đôn thấy các quan lại nhà Thanh có thói quen gọi đoàn sứ của nước Đại Việt là "di quan, di mục" (quan lại mọi rợ), ông viết thư cho Tổng đốc Quảng Châu để phản đối. Với lời văn chặt chẽ, đanh thép, triều đình nhà Thanh buộc phải ra lệnh bỏ danh từ khinh miệt này và gọi sứ đoàn nước ta là "An Nam cống sứ". Điều đó cho thấy ông là một nhà trí thức có tư tưởng tự tôn và tự hào dân tộc.
Trở về nước, ông được thăng chức Thừa chỉ Viện Hàn Lâm, rồi làm Học sĩ ở Bí thư các để duyệt kỷ sách vở. Năm Giáp Thân (1764), ông dâng sớ xin thiết lập pháp chế, vì thấy một số quan lại lúc bấy giờ "đã quá lạm dụng quyền hành, giày xéo lên pháp luật", nhưng không được chúa nghe. Cũng trong năm đó, ông được cử làm Đốc đồng xứ Kinh Bắc, rồi đổi làm Tham chính xứ Hải Dương , song ông dâng sớ không nhận chức và xin về hưu.
Đầu năm Đinh Hợi (1767, chúa Trịnh Doanh qua đời, Trịnh Sâm lên nối ngôi. Chúa cho triệu Lê Quý Đôn về triều, phong làm chức Thị thư, tham gia biên tập quốc sử, kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám. Năm Canh Dần (1770), ông được thăng làm Hữu thị lang bộ Hộ, kiêm Thiêm đô Ngự sử.Mùa thu năm ấy, ông và Đoàn Nguyễn Thụ nhận lệnh đi khám duyệt hộ khẩu ở xứ Thanh Hóa. Xong việc trở về, ông tâu xin tha bớt các thuế thổ sản, thủy sản cho các huyện và thuế thân còn thiếu. Chúa Trịnh liền giao cho triều đình bàn và thi hành. Điều đó cho thấy ông còn là một nhà chính trị quan tâm đến nhân dân, gần gũi nhân dân và hiểu những mong muốn của nhân dân.
Trong bối cảnh triều chính rối ren, nhân dân đói khổ, Lê Quý Đôn lâm bệnh nặng. Ông mất ngày 14 tháng 4 năm Giáp Thìn (tức 11 tháng 6 năm 1784), lúc 58 tuổi. Thương tiếc, chúa Trịnh Tông đã đề nghị với vua Lê Hiển Tông cho bãi triều ba ngày, đồng thời truy tặng Lê Quý Đôn làm Thượng thư bộ Công.



