Nhà báo Liệt sĩ
Vào năm 1960, anh Bùi Văn Thưởng vừa học xong chương trình Đệ tứ (tương đương lớp 9 bậc học phổ thông ngày nay), má Tám Nghiệp đã tìm gặp ông Tám Thạnh (Hồ Văn Thạnh, phụ trách Tiểu ban tuyên truyền của báo) xin cho con trai mình vào cơ quan báo Thông tấn xã Giải Phóng tỉnh Mỹ Tho, nối gót cha mẹ đánh giặc. Thế là ở tuổi 13, 14 cậu bé Bùi Văn Thưởng háo hức làm “chú nhà báo Giải phóng” chuyên quay máy Ra-gô-nô, phát điện truyền tin tức, bài vở về Tổng xã Giải phóng Miền. Cậu còn được giao nhiệm vụ chép tin đọc chậm từ Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Tiếng nói Giải phóng chuyển cho lãnh đạo và các cơ quan Tỉnh ủy, Mặt trận dân tộc Giải phóng Mỹ Tho.
Vừa làm vừa học, học ở những anh chị cô chú đi trước, chẳng bao lâu anh Bùi Văn Thưởng đã hoàn toàn tự tin để viết tin, bài, cung cấp ảnh cho các tờ báo “Tranh đấu”, “Tin tức Mỹ Tho”, “Giải phóng”, “Ấp Bắc” phục vụ cho bộ đội nhân dân vùng giải phóng.
Lời ông bà xưa nói “đứa anh đi trước, rước đứa em sau” rất đúng với hoàn cảnh anh em Bùi Văn Thưởng. Hơn ba năm sau (1963), theo lời khuyên bảo của má Tám Nghiệp, cậu em trai là Bùi Văn Tấn cũng vào căn cứ xin vào công tác báo chí ở Phân xã Mỹ Tho. Điều kỳ lạ của hai anh em Bùi Văn Thưởng và Bùi Văn Tấn, đó là cả hai học xong đệ tứ, đúng 13 tuổi đều thoát ly làm báo chí cách mạng tại quê hương. Phân xã Mỹ Tho hoạt động cận kề bên nách địch và chỉ cách cơ quan đầu não chính quyền Sài Gòn khoảng 70km. Chỉ huy Tám Thạnh chỉ đạo Phân xã phải “ém quân” an toàn, cơ động “nhảy cóc” linh hoạt để phát tin trong mọi tình huống kể cả lúc bị vây ráp.
Theo nhiều người kể lại, nhà báo Bùi Văn Thưởng vóc dáng nhỏ con nhưng lanh lẹ và gan lì thì không ai bằng. Lúc tác nghiệp hay đi công tác bao giờ quanh thắt lưng cũng lèn chặt lựu đạn, hễ đụng giặc là chủ động đánh, mở đường cho Phân xã rút an toàn. Trong túi đựng mìn Cờ-lây-mo (Claymore) của Bùi Văn Thưởng bao giờ cũng có tấm vải nhựa phòng bị. Mỗi khi đột ngột gặp phải trận càn, lập tức Thưởng dùng tấm vải nhựa bọc kín máy phát sóng, máy Ra-gô-nô giấu dưới nước bảo đảm an toàn, khi địch rút lui tìm vớt lên mang ra sử dụng.
Phân xã thiếu thiết bị, phụ kiện thay thế phương tiện phát điện, phát sóng, Thưởng nài nỉ chú Tám Thạnh cho theo các đơn vị Giải phóng tập kích căn cứ Mỹ quanh lộ 4, vừa lượm được nhiều tin chiến thắng vừa thu lắm “chiến lợi phẩm” về điện đài phục vụ công tác. Có trận, Thưởng mang về máy phát tin 15W, bình ắc quy điện, rồi nào máy ảnh, phim chụp ảnh của Mỹ khiến cả cơ quan vui mừng khôn xiết.
Kể lại trận chống càn tại Ấp Bắc (xã Tân Phú Trung, huyện Cai Lậy) ngày 2/1/1963, anh Bùi Văn Thưởng bám theo chân Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 261 là ông Hai Hoàng (Nguyễn Văn Điều). Trong trận đánh phối hợp với bộ đội địa phương Châu Thành, Cai Lậy, du kích xã Tân Phú Trung đánh phủ đầu chiến thuật “Trực thăng vận” và “Thiết xa vận” của Mỹ-ngụy.
Trận càn này, Mỹ-ngụy Sài Gòn sử dụng 8 Tiểu đoàn quân cơ động bằng 35 máy bay trực thăng, 13 xe M.113, 13 tàu chiến với 10 khẩu pháo 135 ly bắn yểm trợ. Quần nhau với 2.000 tên địch suốt một ngày, lực lượng phối hợp của Mỹ Tho đã tiêu diệt làm bị thương 450 tên, phá huỷ 3 xe bọc thép, bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm 2 tàu chiến trên sông Tiền, bẻ gãy trận càn chiến tranh đặc biệt trước cửa ngõ Sài Gòn. Bùi Văn Thưởng có bài tường thuật nóng hổi: “Ấp Bắc, trận đầu đánh thắng chiến thuật Trực thăng vận, thiết xa vận”.
Bài báo được Phân xã Mỹ Tho phát nhanh sau trận thắng càn thắng lợi vang dội. Các Báo Nhân dân, Quân đội nhân dân, Cứu quốc, Thống nhất, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Phát thanh Giải phóng miền Nam đăng và phát vào ngày 3/1/1963 làm nức lòng quân, dân cả nước. Không bao lâu, Bộ tư lệnh quân Giải phóng miền, Trung ương cục phát động phong trào “Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công”. Hậu phương miền Bắc xây nhiều công trình, tăng sản phẩm, cánh đồng 5 tấn, xưởng máy năng suất cao, đoàn xe, đoàn tàu an toàn mang tên “Ấp Bắc”.
Muốn chia lửa để anh trai Bùi Văn Thưởng có thời gian rảnh rang làm phóng viên chiến trường, từ năm 1963, Bùi Văn Tấn thay thế vị trí báo vụ đài CFM truyền tin tức từ Phân xã Mỹ Tho về Tổng xã Giải phóng Miền. Chú bé lấy tin tức toàn miền qua chiếc thu thanh bán dẫn hằng ngày, chép tin đọc chậm Đài Tiếng nói Việt Nam cung cấp tình hình chiến sự cho Tỉnh ủy thay anh trai.
Ngoài phiên trực báo vụ phát tin, các anh các chú phân công thêm việc gì, Tấn vui vẻ thoăn thắt tay chân như con sóc, làm cả phần việc công vụ cho cơ quan Tuyên huấn Mỹ Tho như mang tài liệu, công văn băng qua vành đai pháo chụp, pháo bầy, trực thăng để đến cơ quan Tỉnh đội của má Tám Nghiệp, Tỉnh hội phụ nữ, ban Binh vận. Nhiều lần, một mình Tấn với khẩu súng, anh chèo ghe vượt kênh Cái Xáng vào căn cứ Khu ủy Khu 8 an toàn.
Cho đến một ngày cuối tháng 3/1967, trên đường đi công tác về Tân Phú, (Cai Lậy) bị lộ, bọn địch dùng trực thăng vây bắt. Nhanh trí, một mình Bùi Văn Tấn tách ra khỏi đoàn công tác đánh lạc hướng địch, anh phóng mình ra giữa trảng cát kéo bọn giặc bám theo. Cả đoàn cán bộ thoát hiểm an toàn, Bùi Văn Tấn bị trọng thương. Do thiếu thuốc men và phương tiện cứu chữa, lại mất máu nhiều quá nên Tấn trút hơi thở cuối cùng ở trạm xá Hưng Thạnh (nay là huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang) khi vừa tròn 17 tuổi.
Hai năm sau, vào tháng 6/1969, người anh Bùi Văn Thưởng cũng hy sinh khi anh “mở đường máu” cứu đồng đội trong trận càn ở Mỹ Đức Tây, Cái Bè khi bước sang tuổi 22. Cả hai lần, má Tám Nghiệp thắt ruột, thắt gan lần lượt chứng kiến, chôn cất hai con trai khi các anh dũng cảm chiến đấu và ngã xuống giữa chiến trường khốc liệt.
Ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, Trung tá Bùi Văn Thô quay về lại mảnh đất quê hương đau đớn chết lặng bên mộ vợ và hai con trai. Ông từng làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Cai Lậy, mỗi khi có khách tới thăm, người cha hai nhà báo liệt sĩ, người chồng nữ liệt sĩ Anh hùng Đoàn Thị Nghiệp lại bùi ngùi giở tờ báo “Ấp Bắc” đăng bài Bùi Văn Thưởng và cuốn sổ phóng viên kỷ vật của anh đã ngả màu. Ông luôn day dứt nỗi niềm, bởi chiến tranh liên miên, bận đi đánh giặc mải miết nên không có thời gian gần gũi, chở che cho vợ con.



