NHÀ CÁCH MẠNG NGÔ NGỌC DU

Ngô Ngọc Du (1911–1991) là một nhà hoạt động cách mạng và chính khách Việt Nam
Ông tên thật là Quỳnh, quê ở xã Nam Vân, huyện Nam Trực (sau là phường Nam Vân, thành phố Nam Định), tỉnh Nam Định, nay là phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ông bắt đầu tham gia các hoạt động đấu tranh của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930 và được kết nạp vào Đảng năm 1936.Năm 1943, ông bị thực dân Pháp giam giữ ở nhà tù Sơn La, làm Bí thư Chi bộ nhà tù. Năm 1944, ông nằm trong danh sách những tù nhân bị lưu đày ở Côn Đảo.Cách mạng Tháng Tám thành công, Ngô Ngọc Du cùng các tù chính trị được đón về đất liền, tham gia Thành ủy Sài Gòn và được cử vào ban Thường vụ Thành ủy. Năm 1946, ông được điều ra bắc để tham gia Thành ủy Hà Nội, sau đó là Khu ủy Khu XI (Thành ủy đổi tên) và Xứ ủy Bắc Bộ.Tháng 10 năm 1947, Ủy ban Kháng chiến và Ủy ban Hành chính Hà Nội hợp nhất thành Ủy ban Kháng chiến hành chính do Ngô Ngọc Du làm Chủ tịch. Năm 1948, ông được điều động làm Khu ủy viên phụ trách tài chính của Liên khu X (Tây Bắc).Cuối năm 1948 đầu 1949, Thành ủy Hà Nội tách khỏi Liên khu ủy Lưỡng Hà, ông được điều về làm Bí thư Thành ủy thay Lê Quang Đạo được bổ nhiệm làm Phó ban Tuyên truyền Trung ương.Ngày 3 tháng 3 năm 1949, Thành ủy tách Ban Tuyên huấn ra khỏi Ban Đảng vụ, ông là Bí thư kiêm Trưởng ban Tuyên huấn Thành ủy.Khi Đặc khu Hà Nội được thành lập, ông làm Phó Bí thư trước khi được điều về trung ương giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy Cơ quan Dân Chính Trung ương.Năm 1953, Thứ bộ Công an được thành lập, Ngô Ngọc Du là Trưởng phòng Nhân sự. Khi Thứ bộ Công an trở thành Bộ Công an, ông giữ chức vụ Giám đốc Vụ Bảo vệ chính trị Trong thời gian nắm giữ cương vị trên (1953–1957), ông từng tham gia triệt phá nhiều đường dây gián điệp của Pháp và Mỹ, trong đó nổi bật nhất là chuyên án TN25 phá vỡ mạng lưới gián điệp của phòng Nhì (SDECE),và chuyên án C30 phá vỡ mạng lưới gián điệp được Mỹ cài cắm ra miền bắc.Năm 1955, ông là Bí thư Ban Chấp hành Đảng bộ cơ quan Bộ Công an.Năm 1957, ông làm Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ. Từ năm 1960 đến 1967, ông là Thứ trưởng Bộ Công an, trực tiếp phụ trách xây dựng lực lượng an ninh ở Khu nhà lá C500 để chi viện cho mặt trận miền nam.Năm 1967, ông là Ủy viên Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng. Năm 1977, ông về hưu và qua đời năm 1991.



