NHÀ CÁCH MẠNG PHẠM NGỌC LÂN

Đồng chí Phạm Ngọc Lân sinh năm 1922 tại làng Vĩnh Kim Tây, nay thuộc xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Sinh ra trong vùng đất Vĩnh Kim trù phú, nổi tiếng với những vườn cây ăn trái và truyền thống văn hóa lâu đời, sau khi học hết bậc tiểu học, đồng chí nghỉ học để phụ giúp gia đình làm nông. Từ nhỏ, đồng chí đã yêu thích nghệ thuật dân tộc, sớm tham gia nhóm đờn ca tài tử của địa phương và nhanh chóng trở thành một tay đờn kìm có tiếng.
Đầu năm 1940, khi vừa tròn 18 tuổi, đồng chí được các chiến sĩ cách mạng tuyên truyền, giác ngộ và kết nạp vào tổ chức bí mật. Đến tháng 11/1940, khi Khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, Vĩnh Kim trở thành một trong những địa bàn nổi dậy mạnh nhất của huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho. Đồng chí Phạm Ngọc Lân hăng hái tham gia lực lượng nghĩa binh, góp phần lật đổ bộ máy hội tề của địch, thành lập chính quyền cách mạng tại địa phương.
Đồng chí được tận mắt chứng kiến những ngày đầu tiên của chính quyền cách mạng, khi lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc nhà lồng Chợ Giữa. Trong những ngày ấy, đồng chí cùng đội thanh niên xung kích thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng như canh gác, bảo vệ trụ sở xã, tuần tra các ấp và giữ gìn an ninh trật tự.
Tuy nhiên, chỉ chưa đầy một tuần sau, thực dân Pháp từ Mỹ Tho cho máy bay ném bom và bắn phá dữ dội xuống khu vực Chợ Giữa giữa lúc người dân đang họp chợ đông đúc. Tiếp đó là những cuộc càn quét liên tiếp của lính lê dương vào các vùng nổi dậy. Trước tình hình đó, nhiều cán bộ chủ chốt phải phân tán hoạt động bí mật. Đồng chí Phạm Ngọc Lân cũng rút vào vùng sâu trong xã và tạm thời mất liên lạc với tổ chức cách mạng trong một thời gian dài.
Đầu năm 1945, khi tình hình trong nước và thế giới có nhiều chuyển biến thuận lợi, đồng chí cùng các đồng chí cũ nối lại liên lạc và tiếp tục hoạt động cách mạng. Tháng 5/1945, đồng chí tích cực tham gia Phong trào Thanh niên Tiền phong, một tổ chức hoạt động công khai nhưng do các đảng viên cộng sản lãnh đạo dưới danh nghĩa Việt Minh.
Giữa mùa thu năm 1945, trong hàng ngũ Thanh niên Tiền phong, đồng chí tham gia Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, góp phần giành chính quyền về tay nhân dân. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đồng chí được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc và đảm nhiệm công tác cán bộ Đoàn.
Giữa năm 1946, đồng chí được điều động lên cấp tỉnh giữ chức Trưởng đoàn Tuyên truyền vận động đời sống mới, phụ trách tuyên truyền tại các xã Vĩnh Kim, Bàn Long, Phú Phong và Kim Sơn, góp phần xây dựng đời sống mới trong vùng kháng chiến.
Tháng 8/1947, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, sau đó trở về quê hương giữ chức Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính huyện Châu Thành. Đầu năm 1949, đồng chí được bầu vào Huyện ủy Châu Thành, giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính huyện, phụ trách lĩnh vực kinh tế và tài chính. Đến năm 1953, đồng chí trở thành Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, tiếp tục giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính huyện và năm 1954 được bầu làm Phó Bí thư Huyện ủy Châu Thành.
Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 được ký kết, đồng chí được Đảng phân công ở lại miền Nam tiếp tục hoạt động bí mật. Năm 1958, đồng chí được Xứ ủy Nam Bộ điều động về Ban Kinh tài, giữ chức Tổ trưởng Tài chính của Xứ ủy, rời quê hương Mỹ Tho lên căn cứ miền Đông Nam Bộ.
Tháng 1/1961, khi Trung ương Cục miền Nam được thành lập, đồng chí được điều động về Văn phòng Trung ương Cục, phụ trách nhóm nghiên cứu theo dõi tình hình miền Đông Sài Gòn - Gia Định. Đồng chí cùng nhiều cán bộ khác tham gia xây dựng các căn cứ cách mạng từ miền Đông Nam Bộ, chiến khu Dương Minh Châu (Tây Ninh) đến căn cứ Bắc Tây Ninh, nơi trở thành đại bản doanh của Trung ương Cục trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Với cương vị Phó Chánh Văn phòng phụ trách hành chính - quản trị và Bí thư Đảng ủy Văn phòng Trung ương Cục, đồng chí có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng hệ thống hậu cần, bảo đảm mọi điều kiện sinh hoạt, làm việc và an toàn tuyệt đối cho cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam. Đồng chí trực tiếp chỉ đạo công tác phục vụ các hội nghị lớn, tổ chức hậu cần cho hàng nghìn lượt cán bộ từ các khu, tỉnh về họp, đồng thời xây dựng tập thể đoàn kết, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Trong những năm chiến tranh ác liệt, căn cứ Trung ương Cục chỉ cách Sài Gòn khoảng 80 km đường chim bay, trở thành mục tiêu đánh phá quyết liệt của quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Đặc biệt, tháng 3/1967, quân Mỹ mở cuộc hành quân quy mô lớn nhằm tiêu diệt căn cứ Trung ương Cục. Với vai trò Bí thư Đảng ủy Văn phòng, đồng chí Phạm Ngọc Lân đã cùng các đơn vị phối hợp tổ chức chống càn, bảo vệ an toàn cơ quan đầu não, nhân lực và vật lực của căn cứ. Sau nhiều ngày chiến đấu ngoan cường, quân và dân ta đã buộc quân Mỹ phải rút lui trong thất bại.
Mỗi lần cơ quan Trung ương Cục phải sơ tán để tránh các cuộc càn quét lớn, Văn phòng Trung ương Cục do đồng chí phụ trách luôn là lực lượng tổ chức, bảo đảm cho toàn bộ quá trình di chuyển, bảo vệ tài liệu, cán bộ và nhanh chóng ổn định hoạt động sau khi trở về căn cứ.
Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đồng chí cùng các cơ quan Trung ương Cục trở về tiếp quản Sài Gòn. Từ năm 1975 đến 1977, đồng chí giữ chức Phó Chánh Văn phòng Ban Đại diện Trung ương Đảng tại miền Nam. Giai đoạn 1977-1981, đồng chí đảm nhiệm cương vị Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 1982, đồng chí nghỉ hưu theo chế độ.
Với những cống hiến to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, đồng chí Phạm Ngọc Lân được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Đồng chí qua đời ngày 07/01/1993 tại quê hương Vĩnh Kim. Để ghi nhớ những đóng góp của ông, một con đường tại chính quê hương Tiền Giang đã được mang tên Phạm Ngọc Lân.



