Bài viết

Nhà chỉ huy có tài thao lược kiệt xuất

Bước vào kháng chiến chống Mỹ, Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp và Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh đã xây dựng một quân đội vững về chính trị, mạnh về quân sự, đáp ứng yêu cầu mới của cuộc chiến tranh nhân dân. Có thể nói, không một quân chủng, binh chủng nào được xây dựng, trưởng thành mà không mang dấu ấn của ông.

05/08/2026Xã Tân Kỳ (Đoàn xã Tân Kỳ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Nhà chỉ huy có tài thao lược kiệt xuất

Bước vào kháng chiến chống Mỹ, Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp và Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh đã xây dựng một quân đội vững về chính trị, mạnh về quân sự, đáp ứng yêu cầu mới của cuộc chiến tranh nhân dân. Có thể nói, không một quân chủng, binh chủng nào được xây dựng, trưởng thành mà không mang dấu ấn của ông.

Cuối năm 1967, hoạt động của bộ đội ta rộ lên ở phía tây đường 9. Trong lúc Mỹ-ngụy chờ đợi một Điện Biên Phủ mới ở Khe Sanh thì Tết Mậu Thân 1968, cuộc tổng tiến công của ta nổ ra ở Sài Gòn, Huế và trên 100 thị xã, đô thị miền Nam, buộc Nhà trắng phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn hòa đàm ở Paris. Tiếp đó, chiến dịch đường 9 – Nam Lào, đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719, rồi đến chiến dịch Trị Thiên (1972) giành thắng lợi vang dội, đều in đậm dấu ấn chỉ huy tài tình của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp.

Trong chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” năm 1972, với tài thao lược kiệt xuất, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dự kiến sớm phương án đánh cho quân Mỹ thua ngay trên bầu trời Hà Nội. Hồi ức “Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng” của Đại tướng viết: Tháng 9-1971, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã nhận định: Năm 1972 hoặc là địch sẽ rút nếu đạt được giải pháp; nếu chưa, địch có thể tập trung không quân đánh phá. Ta cần có biện pháp đề phòng. Ngay trong ngày hôm sau, nhân danh Bí thư Quân ủy Trung ương, tôi chỉ thị cho các đảng bộ trong toàn quân: “B52 không chỉ đánh ở miền Nam. Đến mức độ nào đó, cũng có thể đánh vào Thủ đô Hà Nội. Quân chủng Phòng không-Không quân phải nghiên cứu kỹ đối tượng này”.

Đầu tháng 9-1972, kế hoạch đánh B52 của ta đã hoàn thành. Khi trận chiến diễn ra, Đại tướng xuống nhiều trận địa tên lửa, sở chỉ huy phòng không kiểm tra tình hình. Bội đội ta bị thiếu đạn, ông chỉ thị khẩn trương lắp ráp đạn tên lửa, không dùng tên lửa bắn máy bay cường kích, mà dùng để đánh B52. Chỉ thị này đã góp phần làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không” nức lòng quân dân cả nước.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam diễn ra gay go và ác liệt, cần thiết phải có một con đường để hành quân và vận chuyển vũ khí, khí tài chi viện cho chiến trường lớn. Năm 1959, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp chỉ đạo mở tuyến đường Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển. Khi đó, ông đã có những chỉ thị rất cụ thể: “Việc mở đường không được ai biết, không để lọt vào tay địch một người, một hiện vật, một mẩu thuốc là cũng có thể tạo nên một vật chứng làm hỏng việc lớn...”. Hai con đường huyết mạch huyền thoại xuyên rừng, vượt biển đó đã thay đổi thế cờ của cuộc chiến ở miền Nam, góp phần có ý nghĩa quyết định vào thắng lợi của công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Khi thời cơ chiến lược đã đến, cần có những trận quyết chiến chiến lược để giành toàn thắng, tuy nhiên vẫn còn ý kiến tranh luận nên chọn hướng chiến trường chính và mục tiêu tiến công ở đâu. Tháng 12-1974, Bộ Chính trị họp mở rộng, sau khi nghe Bộ Tổng tham mưu trình bày dự kiến Kế hoạch quân sự năm 1975, thay mặt Quân ủy Trung ương, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh: Trong kế hoạch quân sự 1975-1976 cần phải ghi rõ diệt địch ở Tây Nguyên, mở đầu bằng đánh Buôn Ma Thuột. Có thể sau khi ta tiêu diệt Buôn Ma Thuột, địch sẽ rối loại, khi đó ta phải chớp thời cơ giải phóng Huế. Nếu lúc đó, ta chậm chân, mỏi mệt, để mùa mưa đến, thì lỡ mất thời cơ. (Tổng hành dinh mùa Xuân toàn thắng)

Nhiều nhà nghiên cứu quân sự sau này nhận định, đòn đánh vào Buôn Ma Thuột thực sự là một đòn “điểm huyệt” vào toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch, đưa chúng đến chỗ tan rã nhanh chóng.Khi Quân đoàn 2 của địch tan rã trên đường rút chạy khỏi Tây Nguyên. Ngày 18-3-1975, Đại tướng thay mặt Quân ủy Trung ương đề nghị và được Bộ Chính trị đồng ý cho giải phóng miền Nam trong năm 1975, không chờ đến năm 1976. Ông hạ lệnh cho quân đoàn 1 lên đường, chỉ đạo Bộ Tư lệnh Quảng-Đà vừa mới thành lập nhanh chóng tiến công Đà Nẵng.

Trong hồi ký của mình, Đại tướng viết: Ngày 26-3 tại Tổng hành dinh đề nghị của anh Tấn (Thượng tướng Lê Trọng Tấn - Tư lệnh mặt trận Quảng-Đà) chuẩn bị chiến đấu 5 ngày. Tôi phân tích ngắn gọn, nêu rõ tình huống địch tử thủ, ta chuẩn bị 5 ngày, địch rút mất cả thì sao? Huế đã giải phóng rồi, tôi chỉ thị làm kế hoạch đánh địch theo hướng chúng rút trong 3 ngày, cứ cho bộ đội hành quân theo đường số 1 tiến công lên, không họp Đảng ủy, chỉ trao đổi bằng điện thoại. Khi tướng Tấn còn phân vân, tôi nói giọng có phần gay gắt: Tư lệnh mặt trận là anh nên tôi để anh ra lệnh, nếu là người khác thì tôi ra lệnh. Đánh Đà Nẵng theo phương án chuẩn bị 3 ngày.

Thượng tướng Lê Trọng Tấn đã chấp hành nghiêm chỉ thị, chỉ trong 32 giờ bộ đội ta đánh tan 100.000 quân địch, giải phóng Đà Nẵng. Ngay sau đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp phê chuẩn đề nghị thành lập cánh quân phía Đông và ra mệnh lệnh "Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa…" cho toàn quân xốc tới tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Cùng với đó, bằng tầm nhìn xa trông rộng, ngay sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có một quyết định cực kỳ sáng suốt và kịp thời khi kiến nghị với Bộ Chính trị vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo quân ngụy đang chiếm giữ. Theo lệnh của Đại tướng, bộ đội ta thu hồi lần lượt các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, đến 28-4-1975, thu hồi đến đảo An Bang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tư duy chiến lược của một nhà quân sự còn thể hiện sau này trên cương vị Phó thủ tướng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đề xuất một chiến lược về khoa học biển và kinh tế miền biển, đồng thời có những chỉ thị vượt thời gian: “Kinh tế vùng biển phải từ đất liền mà phát triển ra biển và các hải đảo. Đưa dân ra làm kinh tế biển đảo, vừa cải thiện được đời sống của dân, vừa có lực lượng để thực hiện quốc phòng toàn dân, để giữ vững chủ quyền biển, đảo” (“Võ Nguyên Giáp hào khí trăm năm” - Trần Thái Bình).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Nhà chỉ huy có tài thao lược kiệt xuất | Câu chuyện thời hoa lửa