Bài viết

Nhà chí sĩ cách mạng Huỳnh Thúc Kháng và cốt cách thanh bạch và tấm lòng son sắt

Trong dòng chảy lịch sử cận - hiện đại của dân tộc Việt Nam, có những bậc tiền bối đại diện cho sự kết tinh giữa học vấn uyên thâm, lòng yêu nước nồng nàn và cốt cách thanh cao của bậc chính nhân quân tử. Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876 – 1947, hiệu Mính Viên) – một trong những nhà lãnh đạo tiêu biểu của phong trào Duy Tân, Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ, chủ bút báo Tiếng Dân, và sau Cách mạng Tháng Tám là quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – là một tấm gương sáng ngời như thế.

Đà Nẵng14/08/2026Trương Nguyễn Việt Lam ((LĐ) Đoàn phường Cam Ly - Đà Lạt)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sinh ra tại làng Thạnh Bình, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam (mảnh đất "ngũ phụng tề phi" giàu truyền thống hiếu học), cụ Huỳnh đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương và đỗ Hoàng giáp kỳ thi Hội năm 1904. Thế nhưng, cụ không chọn con đường làm quan phục vụ triều đình phong kiến mục nát mà cùng các đồng chí cùng chí hướng như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp dấn thân vào phong trào Duy Tân, thức tỉnh dân trí, chấn hưng dân khí.

Năm 1908, phong trào chống sưu thuế bùng nổ rầm rộ tại Quảng Nam và lan rộng khắp Trung Kỳ. Thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, bắt bớ hàng loạt nhân sĩ yêu nước, trong đó có cụ Huỳnh Thúc Kháng. Cụ bị kết án đày ra Côn Đảo suốt 13 năm (1908 – 1921). Mỗi lần bị địch bắt bớ, đày ải hay thẩm vấn, cụ Huỳnh luôn giữ một phong thái bình thản lạ kỳ. Trước tòa án thực dân hay giữa chốn "địa ngục trần gian" Côn Đảo, cụ luôn đường hoàng, điềm tĩnh, dùng sự hiểu biết luật pháp và lý lẽ đanh thép để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của người dân và bảo vệ phẩm giá của người tù chính trị. Suốt hơn một thập kỷ nơi đầu sóng ngọn gió Côn Đảo, cụ không hề nao núng hay nản chí. Cụ xem cảnh ngục tù như một chốn thử thách ý chí, kiên trì tự học thêm tiếng Pháp, nghiên cứu sách báo tiến bộ và giữ trọn khí tiết của một bậc trượng phu.

Sau khi ra tù năm 1921 và thôi giữ chức Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ do bất đồng sâu sắc với chính sách cai trị của chính quyền bảo hộ, năm 1927, cụ Huỳnh Thúc Kháng sáng lập tờ báo Tiếng Dân tại Huế – tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở miền Trung. Với tôn chỉ nói lên nỗi khổ và tiếng nói trung thực của đồng bào, tờ Tiếng Dân nhanh chóng trở thành cái gai trong mắt mật thám và chính quyền thực dân Pháp. Tờ báo liên tục bị kiểm duyệt gắt gao, nhiều bài viết bị đục bỏ, và cụ Huỳnh nhiều lần bị gọi lên cơ quan mật thám để chất vấn, đe dọa. Trong một lần bị gọi lên Sở Mật thám Huế, một tên cai mật thám người Pháp với thái độ hách dịch đã tìm cách mua chuộc cụ. Hắn đẩy một bọc tiền lót tay sang phía cụ, hứa hẹn nhiều quyền lợi vật chất nhằm ép cụ viết bài ca ngợi chính sách cai trị của Pháp hoặc làm giảm giọng điệu chỉ trích trên tờ báo. Trước hành vi đê hèn ấy, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã thẳng thừng đập bàn mắng thẳng vào mặt tên mật thám:

"Tiền bạc của các người có thể mua được nhiều thứ, nhưng không bao giờ mua được ngòi bút và cốt cách của một người dân Việt Nam yêu nước!"

Cái đập bàn đanh thép cùng lời nói khẳng khái của cụ đã làm tên mật thám bẽ bàng, chùn bước. Suốt 16 năm tồn tại của báo Tiếng Dân (1927 – 1943), ngòi bút của cụ Huỳnh luôn giữ trọn sự trong sạch, không bao giờ bị khuất phục bởi tiền tài hay quyền lực ngoại bang.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhận lời mời tha thiết và trân trọng từ Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã gác lại tuổi già để tham gia Chính phủ cách mạng non trẻ, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán, Người đã trao lại trọng trách quyền Chủ tịch nước cho cụ Huỳnh cùng lời gửi gắm lịch sử: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến". Bằng sự uyên thâm, uy tín lớn lao và lòng trung kiên với đất nước, cụ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ vững khối đại đoàn kết dân tộc và ổn định tình hình đất nước trong giai đoạn muôn vàn khó khăn của thời kỳ "ngàn cân treo sợi tóc". Đầu năm 1947, khi đang trên đường đi kinh lý miền Nam Trung Bộ, do tuổi cao sức yếu và điều kiện kháng chiến gian khổ, cụ đã tạ thế tại xã Hành Minh, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 21/4/1947. Trong bức thư gửi quốc dân đồng bào sau khi cụ mất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trân trọng viết: "Cụ Huỳnh là người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao... Là một người giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời Cụ Huỳnh không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm làm giàu. Cả đời Cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập."

Nhìn lại những câu chuyện về cụ Huỳnh Thúc Kháng, điều để lại sự xúc động sâu lắng trong lòng người đời sau không chỉ là tài năng học vấn mà là cốt cách thanh bạch, cứng cỏi của một nhân cách lớn. Đứng trước sự mua chuộc của bạc vàng hay sự đe dọa của bạo quyền, cụ luôn giữ vững sự trong sạch của lương tri và lòng tự tôn dân tộc. Nhắc nhớ về cụ Huỳnh Thúc Kháng hôm nay là dịp để mỗi chúng ta lắng lòng, trân trọng và học tập bài học về lòng trung thực, khí tiết và tinh thần phụng sự đất nước vô điều kiện của các bậc tiền bối.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn