Nhà chiến lược vĩ đại
Những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, là người phụ trách công tác quân sự của Đảng, Tổng Chỉ huy Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy trận đánh ở Hà Nội với 5 tiểu đoàn Vệ quốc quân và lực lượng tự vệ Thành mới thành lập, súng đạn cực kỳ thiếu thốn. Bằng chiến thuật “trùng độc chiến”, trong đánh ngoài vây, quân ta đã cầm chân quân Pháp trong suốt 60 ngày đêm trong thành phố.

Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp làm việc tại chiến khu Việt Bắc (1949)
Mùa Đông năm 1947, trước thế giặc rất mạnh, Tổng Chỉ huy Võ Nguyên Giáp được nghe báo cáo có 1 đại đội bị lạc đơn vị đã nương tựa vào nhân dân Hà Bắc, vừa chiến đấu vừa phát triển lực lượng trong lòng địch. Câu chuyện đã lóe lên trong đầu vị tướng thiên tài một giải pháp mà bấy lâu ông đang tìm kiếm. Ông đề nghị với Đảng và Bác Hồ cho phân tán bộ đội thành những đại đội độc lập và tiểu đoàn tập trung, đưa đại đội về các địa phương phát động chiến tranh du kích; dùng tiểu đoàn vận động đánh những trận nhỏ, tiêu diệt và tiêu hao quân địch. Hai vạn quân Pháp tung vào Việt Bắc không thể tìm thấy bộ đội chủ lực của ta, trở thành những đơn vị chiếm đóng nhỏ, chơ vơ giữa núi rừng, lại phải đối phó với những trận tập kích, không thể bảo vệ nổi các tuyến tiếp tế hậu cần trên bộ và trên sông. Ý đồ đánh nhanh, thắng nhanh của quân Pháp vì thế bị thất bại thảm hại.
Tháng 6-1950, Ban Thường vụ Trung ương Ðảng quyết định mở Chiến dịch Biên giới, hầu hết chủ lực của ta đều được huy động cho chiến dịch. Khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới mặt trận, bộ phận đi trước đã chọn thị xã Cao Bằng làm điểm đột phá, ông trực tiếp đi trinh sát và quyết định chuyển điểm đột phá về Đông Khê. Theo PGS, TS Trần Ngọc Long, nguyên Phó viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, khi đó, địch ở Cao Bằng có tới ba tiểu đoàn, còn ở Ðông Khê chỉ có một tiểu đoàn, nằm trong khả năng tiêu diệt của bộ đội ta lúc bấy giờ. Vả lại, nếu đánh chiếm được Ðông Khê, Cao Bằng sẽ bị cô lập và địch thế nào cũng cho quân lên ứng cứu, lúc đó ta có thể tiêu diệt chúng ngoài hệ thống công sự, giữa núi rừng trùng điệp. Nhờ sự thay đổi này, quân ta đã giành thắng lợi, góp phần khai thông thế bế tắc cho căn cứ địa Việt Bắc, mở thông biên giới với các nước anh em. Còn đối với người Pháp, đây là trận thua lớn nhất trong chiến tranh thuộc địa Pháp từ khi tướng Montcalm thua Anh và chết ở Canada năm 1759 (Sách “Những trận lớn trong lịch sử” (SOCOMER-Paris).
Tiếp đó, dưới sự chỉ đạo của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, quân ta mở và giành thắng lợi ở nhiều chiến dịch như: Đồng Bằng (5/1951), Hòa Bình (12/1951- 2/1952), Tây Bắc (10-12/1952), Thượng Lào (4-5/1953).

Sau những thất bại liên tiếp, năm 1953, H.Navarre Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp lên kế hạch giành thắng lợi trong vòng 18 tháng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đề ra chiến lược phá địch bằng cách mở nhiều hướng tiến công, phân tán khối quân cơ động lớn của Navarre ở đồng bằng Bắc Bộ. Tây Bắc được chọn là hướng chính, Điện Biên Phủ trở thành trận quyết chiến chiến lược.
Khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên đến mặt trận, mọi công tác chuẩn bị cho phương án “đánh nhanh, thắng nhanh” đã hoàn tất. Nhưng so sánh tương quan lực lượng, vì sự thành công của chiến dịch, tính mạng người lính trên chiến trường, không thể mạo hiểm dốc toàn lực "đánh nhanh, thắng nhanh", phơi lưng trong thế trận pháo đài chiến lũy kiên cố của kẻ thù. Nhớ lời Bác dặn trước lúc lên đường "tướng quân tại ngoại", nhưng “chắc thắng mới đánh”, Đại tướng đã quyết định chuyển sang phương án “đánh chắc, tiến chắc”. Ông kể lại:

Tôi cảm thấy trách nhiệm lần này rất nặng... Tôi cảm thấy như cả tháng trôi qua...
Mỗi ngày, tôi càng nhận thấy rõ là không thể đánh nhanh được. Lời Bác dặn trước lúc lên đường và nghị quyết Trung ương hồi đầu năm lại văng vẳng bên tai: "Chỉ được thắng không được bại, vì bại thì hết vốn!".
Đêm ngày 25 tháng 1 năm 1954, tôi không sao chợp mắt. Đầu đau nhức... và...
Văn phòng thông báo cuộc họp Đảng ủy mặt trận... Tôi trình bày những suy nghĩ đã có từ lâu... Đánh chắc thắng. Trước khi tôi ra đi, Bác trao nhiệm vụ..."
Mặc dù trong buổi họp nhiều ý kiến chưa thông suốt với cách chuyển hướng chiến lược trận đánh, nhưng trước lời dạy của Hồ Chí Minh.
"Tôi kết luận:
... "Đánh chắc thắng", cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc". Nay quyết định hoãn cuộc tiến công...
Trong ngày hôm đó, tôi đã thực hiện được một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình"
(Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn tướng tài cho "trận khủng khiếp nhất" - Báo Nhân dân)
Chính nhờ quyết định sáng suốt này, trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ đã giành được toàn thắng với sự hy sinh xương máu thấp nhất, đặt dấu chấm hết cho chủ nghĩa thực dân ở Đông Dương. Đại tướng Lê Trọng Tấn và nhiều cán bộ sau này đã nói: “Nếu không có quyết định chuyển phương châm ngày đó thì phần lớn chúng tôi sẽ không có mặt trong đánh Mỹ”.




