Nhà giáo – Người lính – Nhà báo chiến trường
Từ một giáo viên dạy giỏi của tỉnh Hưng Yên, năm 1965 ông tình nguyện nhập ngũ, tham gia lực lượng công binh trên tuyến đường Trường Sơn. Sau thời gian chiến đấu và điều trị sốt rét ác tính, ông trở thành phóng viên Báo Trường Sơn, tự học nhiếp ảnh và ghi lại những khoảnh khắc chân thực giữa chiến trường bằng ngòi bút và ống kính. Sáu mươi năm nhìn lại, những ký ức về đồng đội, gia đình và khát vọng cống hiến vẫn là minh chứng sống động cho lòng yêu nước, tinh thần kiên cường và ý chí của người
CCB Hoàng Kim Đáng- từ một giáo viên dạy giỏi của tỉnh Hưng Yên, năm 1965 ông tình nguyện nhập ngũ, tham gia lực lượng công binh trên tuyến đường Trường Sơn. Sau thời gian chiến đấu và điều trị sốt rét ác tính, ông trở thành phóng viên Báo Trường Sơn, tự học nhiếp ảnh và ghi lại những khoảnh khắc chân thực giữa chiến trường bằng ngòi bút và ống kính. Sáu mươi năm nhìn lại, những ký ức về đồng đội, gia đình và khát vọng cống hiến vẫn là minh chứng sống động cho lòng yêu nước, tinh thần kiên cường và ý chí của người lính Trường Sơn. Ông kể lại
- Sau khi nhập ngũ, tôi làm lính công binh tại các trận địa bảo vệ tên lửa bắn B52 từ Hà Đông, thị xã Sơn Tây lên đến tỉnh Lạng Sơn. Cuối năm 1965, tôi bắt đầu hành quân vào Trường Sơn, tiếp tục làm lính công binh cho đến khi bị sốt rét ác tính, phải trở ra bệnh viện ở khu 4 điều trị trong bảy tháng. Tháng 9/1967, sức khoẻ được hồi phục, tôi quay lại Trường Sơn. Khi đó, cơ quan tuyên huấn của Đoàn 559 có chủ trương thực hiện một tờ báo, lấy tên là Trường Sơn gang thép và tôi đã được phân công về đó. Cả tờ báo chỉ có bốn người làm, từ tổng biên tập đến bộ phận viết và sản xuất, in roneo (in thủ công với trục quay ru-lô). Đến cuối năm 1968, tờ báo được nâng cấp, đổi tên thành Trường Sơn, có sự tham gia của nhiều người hơn, như các anh nhà thơ Phạm Tiến Duật, nhà văn Lê Lựu, Hoàng Đình Tài (họa sĩ), Vương Khánh Hồng (chụp ảnh). Báo được in ty-po (in mực trên máy), số lượng trang và bản in đều tăng lên.
Tôi tự học về nhiếp ảnh, học in tráng ảnh từ nhà thơ Trọng Khoát dưới ánh đèn dầu trong hầm trú ẩn. Tôi học cách viết, cách chụp ảnh từ những tờ báo lớn, như báo Nhân Dân, Quân đội nhân dân gửi vào chiến trường, học cách tiết kiệm phim để từng cú bấm máy không lãng phí.
- Trước khi nhập ngũ, tôi đang công tác trong ngành giáo dục của tỉnh Hưng Yên, từng là chiến sĩ thi đua 5 năm liền của ngành giáo dục, được Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên trực tiếp trao bằng khen Giáo viên dạy giỏi. Ông đã xem tôi như là một nhân tố của ngành giáo dục Hưng Yên. Tôi rất vui về điều đó. Nếu không có bước ngoặt nhập ngũ, tôi sẽ vẫn là một nhà giáo (cười).
Tôi lên đường trong một ngày tháng 4/1965. 60 năm qua rồi. Tôi nhớ lúc đó, mới học xong lớp cảm tình Đảng, nhưng tôi đã phát biểu: Tôi sẽ phấn đấu bằng máu để trở thành một đảng viên chân chính, trong cuộc sống, luôn ngẩng cao đầu…
Song, có lúc, nghĩ lại về những năm tháng ấy, tôi vẫn rùng mình. Qua một đêm thoát chết, có lúc buột miệng gọi “Bố ơi! Con chỉ mong về nhà, nhìn thấy bố, ôm lấy bố một cái, rồi lại đi”.
- Tôi được về phép một lần trong năm 1970, ba ngày. Đầu năm 1974, gia đình tôi nhận được tin báo tử nhầm. Đến khi tôi gửi thư, nhờ người cùng làng mang về tận nhà để báo tin vẫn còn sống, nhưng gia đình vẫn không tin! Chuyện đó cũng thường xảy ra trong chiến tranh



