NHÀ GIÁO YÊU NƯỚC NGUYỄN VĂN VINH (1885-1935)
Ông sinh tại làng An Hội (nay thuộc thành phố Bến Tre), con ông Nguyễn Văn Trọng và bà Nguyễn Thị Nho. Sau khi tốt nghiệp Trường Sư phạm Gia Định, ông được chính quyền thực dân điều về dạy ở Bãi Xàu, Sóc Trăng. Năm 1914, ông được chuyển về dạy ở trường học tại tỉnh lỵ Trúc Giang (Bến Tre). Quá trình giảng dạy, ông đã đào tạo được nhiều thế hệ học trò, trong đó có những người nổi tiếng như Ca Văn Thỉnh, Mai Thọ Truyền, Đỗ Phát Quang,... Là một thầy giáo yêu nước, tiến bộ, ngoài việc giáo dục con em, ông còn tích cực tham gia vào Hội Khuyến học tỉnh. Ông thường đến các làng, các quận trong tỉnh diễn thuyết, cổ vũ việc học chữ Quốc ngữ để mở mang dân trí, đồng thời lồng vào đó là những câu chuyện về nghĩa khí, về lòng yêu nước, kích thích khát vọng độc lập, tự do của đồng bào. Bên cạnh đó, ông còn viết văn, làm thơ. Trong lĩnh vực văn chương, ông để lại cho đời 3 tập sách: Câu chuyện mẹ chồng nàng dâu (Nhà in Vân Võ Văn, 1929), Chuyện chị em cô Lê trò Lý (Nhà in Vân Võ Văn, 1928), Tam Yên di hận (Nhà in Vân Võ Văn, 1929). Trong đó, Chuyện chị em cô Lê trò Lý, một thời trở thành là một trong những tác phẩm gối đầu giường của thanh niên yêu nước và trí thức tiến bộ ở Bến Tre những thập niên nửa đầu thế kỷ XX.
Riêng quyền Tam Yên di hận khi vừa in xong, chưa kịp phát hành đã bị chính quyền tịch thu và kết ông tội “dùng văn nghệ cổ vũ tuyên truyền bóng gió, xúi giục dân ba kỳ (Tam Yên) chống lại chính quyền", kết án 5 năm tù treo. Cốt truyện như sau:
“Lữ Huỳnh Anh là một điền chủ lớn, người cháu của Lữ Huỳnh Anh là Huỳnh Huê say mê cờ bạc, rượu chè, nên thường xin tiền của chú để tiêu xài nhưng bị chú từ chối. Huỳnh Huê tức giận bèn dắt bọn cướp về đánh chú. Huỳnh Anh định nhờ tên giúp việc Tô Đắc Lộc cầu cứu ba anh em họ Châu là Châu Hóa Long, Châu Hóa Hồ, Châu Hóa Ngọc để trừ Huỳnh Huê. Biết được ý định của chồng, vợ Huỳnh Anh khuyên chồng không nên nhờ bọn Châu là vì chúng nó là người ngoại thích. Huỳnh Anh không nghe, quyết theo ý mình.
Khi họ Châu đuổi được Huỳnh Huê ra khỏi gia trại Huỳnh Anh, bọn này lại không chịu đi nơi khác và cố ý đoạt gia sản của Huỳnh Anh. Theo anh em họ Châu, sự có mặt của chúng rất cần thiết để bảo vệ tài sản cho Huỳnh Anh.
Ít lâu sau, Huỳnh Anh chết. Bọn họ Châu đuổi vợ Huỳnh Anh khỏi gia trại, viện lẽ bà này không biết thủ tiết thờ chồng. Con của Huỳnh Anh là Huỳnh Nghi được bọn Châu Hóa Long giữ lại nuôi nấng trong gia trại mà bọn chúng đã cướp được của cha Huỳnh Nghi.
Năm tháng trôi qua... Huỳnh Nghỉ khôn lớn, biết bọn Châu Hóa Long không phải là cha đẻ mình, mà bọn chúng chỉ là những kẻ ngoài đến cướp đoạt tài sản của cha và đuổi mẹ ruột mình ra khỏi nhà. Căm phần, Huỳnh Nghi trốn đi tìm Huỳnh Huê cùng chiêu tập hiền tài, lập kế chống lại bọn họ Châu.
Cuối cùng anh em Huỳnh Nghi gặp lại mẹ, họ đòi lại được tài sản bị bọn họ Châu cướp đoạt lâu nay."
Chính quyền thực dân tịch thu ngay quyển này vì người ta nghĩ nó xúi giục dân “ba kỳ” (Tam Yên) nổi lên chống Pháp: Lữ Huỳnh Anh (điền chủ) là Nguyễn Phúc Ánh; Tô Đắc Lộc (tên giúp việc) là Bá Đa Lộc; bọn họ Châu là người Châu u (Pháp). Tuy sách không được phổ biến rộng nhưng tên tuổi của ông được nhân dân nhắc nhở trong một thời gian dài.
Với những tác phẩm trên, Nguyễn Văn Vinh đã có sự đóng góp cho sự phát triển tiểu thuyết ở Nam kỳ trong giai đoạn phôi thai những năm 20 của thế kỷ XX, cùng thời với những cây bút văn xuôi tên tuổi như Lê Hoằng Mưu, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt,.... Giá trị tác phẩm của Nguyễn Văn Vinh là nội dung tiến bộ, yêu nước rõ rệt.
Ông xin hưu trí sớm vì sức khỏe, phần vì chán nản đời công chức tù túng, về nhà vui cảnh điền viên, lao động chân tay, đọc sách và đi câu cá.
Ông mất ngày 4/9/1935. Học trò ông đã làm đôi câu đối tiễn người thầy đáng kính:
Học liêm, học chính, học thiện, học nhẫn, nên thân mất tựa còn.
Học nhân, học nghĩa, học thát, học ô, nên không con như có.



