NHÀ NÔNG HỌC LƯƠNG ĐỊNH CỦA - TÌNH YÊU CÂY TRỒNG VÀ SỰ NGHIỆP NÔNG HỌC ĐÁNG KÍNH
Bài viết khắc họa chân dung Giáo sư, Anh hùng Lao động Lương Định Của – một nhà bác học của đồng ruộng, người đã từ bỏ cuộc sống nhung lụa và sự nghiệp rộng mở tại Nhật Bản để trở về gánh vác nền nông nghiệp nước nhà trong những năm tháng kháng chiến gian khó. Thông qua các mốc cuộc đời, giai thoại nổi tiếng về 10 hạt thóc giống cùng những thành tựu vĩ đại trong công tác chọn tạo giống lúa, bài viết không chỉ tôn vinh trí tuệ và sự cống hiến thầm lặng của ông cho Tổ quốc, mà còn gửi gắm bài học sâu sắc về tinh thần yêu nước, khát vọng học hỏi và trách nhiệm phụng sự Nhân dân dành cho thế hệ trẻ hôm nay.

Trải qua bao năm thăng trầm của lịch sử dân tộc, đất nước ta từ phận nô lệ lầm than, can qua những cuộc trường chinh viết từ máu xương và nước mắt, lại bao nhiêu năm phấn đấu xây dựng để có được “cơ đồ, vị thế và uy tín quốc tế” như ngày nay. Đã có biết bao lớp người ngã xuống, biết bao cống hiến và hi sinh cùng vun về một cội. Trong mạch nguồn truyền thống giữ nước và dựng nước hào hùng ấy, bên cạnh những tướng lĩnh xông pha nơi trận tuyến, dân tộc ta còn khắc ghi công ơn của những người chiến sĩ trên mặt trận thầm lặng – mặt trận khoa học, kỹ thuật và đời sống. Nổi bật giữa những tên tuổi lớn của nền khoa học nước nhà chính là Giáo sư, Anh hùng Lao động Lương Định Của – nhà bác học của đồng ruộng, người đã dâng hiến cả cuộc đời cho hạt lúa, củ khoai và sự ấm no của nhân dân.

Hình ảnh 1: Chân dung nhà nông học Lương Định Của (nguồn: Báo Nhân dân)
Giáo sư Lương Định Của sinh năm 1906 tại làng Đại An, huyện Long Mỹ, tỉnh Sóc Trăng (nay thuộc tỉnh Cần Thơ). Ông sinh ra trong một gia đình điền chủ khá giả, nhưng sớm bộc lộ tấm lòng gắn bó sâu nặng với người nông dân lao động nghèo khó. Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân phong kiến, khi mà người dân Việt Nam “một cổ hai tròng”, đói nghèo, cơ cực bủa vây khắp các vùng quê nông thôn, chàng thanh niên Lương Định Của từ thuở thiếu thời đã mang trong lòng những trăn trở.
Với tinh thần ham học hỏi, từ nhỏ ông đã học tập xuất sắc tại các trường danh tiếng thời bấy giờ. Năm 17 tuổi, khi vừa đỗ tú tài toàn phần ở Sài Gòn, ông tiếp tục hành trình tìm kiếm tri thức của mình trên đất Hồng Kông. Tại đây, ông trúng tuyển và theo học tại Trường Đại học Y khoa Hồng Kông. Mặc dù y học là một ngành cao quý và đầy triển vọng, nhưng trong quá trình học tập, nhận thức của người thanh niên trẻ dần có sự biến chuyển sâu sắc. Ông nhận ra rằng y khoa dù tài giỏi đến đâu cũng chỉ chữa lành bệnh tật cho từng cá nhân, trong khi trên quê hương Việt Nam – một đất nước thuần nông với hơn 90% dân số là nông dân – hàng triệu đồng bào đang quằn quại trong cảnh đói nghèo, mất mùa, giặc đói đe dọa thường trực. Lương Định Của thấu hiểu rằng: Muốn cứu dân, cứu nước một cách tận gốc, trước hết phải làm sao cho bát cơm của người lao động được đầy đặn, nông dân không còn phải giáp hạt đứt bữa. Quyết định dũng cảm rời bỏ ngành Y để chuyển sang con đường Nông học bắt đầu từ chính trăn trở thương dân ấy.
Năm 1937, ông quyết định sang Nhật Bản – quốc gia sở hữu nền khoa học và kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến hàng đầu châu Á thời bấy giờ. Ông lần lượt thi đỗ và theo học tại Khoa Nông học, Trường Đại học Quốc lập Kyushu, sau đó tiếp tục công tác, dấn thân vào các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về di truyền học và chọn tạo giống cây trồng tại Viện Nghiên cứu Nông nghiệp thuộc Đại học Quốc lập Kyoto. Giữa một môi trường học thuật khắc nghiệt, khắt khe và trong bối cảnh người dân nước Nam vẫn bị nhìn nhận bằng ánh mắt coi thường của các nước đế quốc, Lương Định Của đã miệt mài làm việc trong phòng thí nghiệm lẫn trên đồng ruộng từ sáng sớm đến đêm thâu. Năng lực vượt trội cùng những phát hiện mới của ông trong lĩnh vực lai tạo giống lúa đã khiến giới khoa học Nhật Bản phải kinh ngạc và kính nể.
Năm 1951, Lương Định Của bảo vệ thành công xuất sắc luận án Bác sĩ Nông học tại Đại học Quốc lập Kyoto với đề tài nghiên cứu di truyền học lúa nước. Sự kiện này gây chấn động dư luận khoa học lúc bấy giờ, đưa ông trở thành người Việt Nam đầu tiên nhận bằng Bác sĩ Nông học tại Nhật Bản - đây là học vị cao nhất của ngành nông học Nhật Bản từ thời Minh Trị Thiên hoàng. Bằng tài năng kiệt xuất, ông được các viện nghiên cứu lớn giữ lại làm việc với mức đãi ngộ hậu hình, địa vị xã hội cao sang và điều kiện sống vô cùng đàng hoàng cùng gia đình nhỏ tại đất nước Mặt Trời Mọc. Tuy nhiên, cuộc sống đầy đủ cùng vợ con nơi xứ người chưa bao giờ làm nguội đi dòng máu yêu nước trong lòng nhà khoa học trẻ. Thời điểm những năm đầu thập niên 1950, ở quê nhà Việt Nam, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta đang bước vào giai đoạn cam go, quyết liệt nhất dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Dân chủ Cộng hòa. Nơi phương xa, lòng ông vẫn hướng trọn về vùng chiến khu Việt Bắc, về những xóm làng miền Nam ruột thịt đang gồng mình trong bom đạn. Với tâm nguyện cháy bỏng "Tri thức phải thuộc về Tổ quốc, khoa học phải phụng sự Nhân dân", Tiến sĩ Lương Định Của đã khéo léo chối từ những lời mời hấp dẫn của các tập đoàn, viện nghiên cứu Nhật Bản, âm thầm chuẩn bị hành trang và kiến thức để chờ ngày trở về sát cánh cùng đồng bào, cống hiến trọn vẹn tài năng cho sự nghiệp cách mạng và nền nông nghiệp nước nhà.Chuyến trở về Việt Nam vào tháng 9 năm 1952 của Giáo sư Lương Định Của vô cùng gian nan - vòng từ Nhật Bản, về Hồng Kông, rồi về Sài Gòn. Có lúc, giấy tờ, tiền bạ cùng đồ đạc gia đình ông bị thất lạc, phải nhờ sự giúp đỡ của người bạn mới đến được Sài Gòn an toàn. Dù trải qua nhiều khó khăn, 1 chiếc va ly lúa giống mà Lương Định Của kỳ công lựa chọn mang về từ Nhật lại bình an vô sự, vì lúc nào ông cũng luôn cẩn thận mang theo người. Valy lúa giống đó là khởi nguồn của một phần những sáng tạo xuất sắc về nông nghiệp của bác sĩ nông học Lương Định Của sau này.
Được tin Lương Định của về nước, Chính quyền thân Pháp tại Sài Gòn cử người đến tiếp xúc, hứa hẹn với ý đồ ông sẽ làm việc cho chúng; nhưng ông từ chối, chỉ nhận một chân hợp đồng ở Bộ Canh nông trong 2 năm. Trong thời gian đó, ông âm thầm tìm cách liên lạc với cách mạng. Năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương lớn cho tiền tuyến miền Nam. Một chuyến đi đầy chông gai và thử thách khi ông nhập đoàn cán bộ tập kết ra Bắc vào cuối năm 1954. Về đến Thủ đô Hà Nội, ông lập tức bắt tay vào công tác tại Viện Nghiên cứu Khảo cứu Nông lâm (tiền thân của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam sau này) và tham gia giảng dạy, đặt nền móng đào tạo lực lượng cán bộ nông nghiệp tại Trường Đại học Nông Lâm (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam).
Đặt chân lên mảnh đất quê hương sau nhiều năm xa cách, điều đầu tiên ông đối mặt không phải là những phòng thí nghiệm hiện đại hay những thiết bị đo lường tiên tiến như ở Nhật Bản, mà là nền nông nghiệp miền Bắc còn vô cùng lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh. Phương thức sản xuất của người nông dân chủ yếu dựa vào kinh nghiệm dân gian "trông trời, trông đất, trông mây", năng suất lúa thấp bần cùng, đói giặc rình rập mỗi mùa mất mát. Không quản ngại khó khăn, Tiến sĩ Lương Định Của đã biến ruộng đồng miền Bắc thành phòng thí nghiệm khổng lồ của mình. Với ông, khoa học không thể chỉ nằm trên giấy hay lưu giữ trong thư viện, mà phải bước ra từ bùn đất, biến thành hạt thóc, củ khoai làm no lòng người dân.
Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước gay go, Bác Của đã không ngừng mày mò, nghiên cứu và chọn tạo thành công hàng loạt giống cây trồng có năng suất cao, khả năng chống chịu sâu bệnh và thời tiết khắc nghiệt tốt. Hàng loạt giống lúa huyền thoại gắn liền với tên tuổi của ông như Nông nghiệp 1, Nông nghiệp 8, Lúa Di Hương, Lúa Nông nghiệp 5... ra đời, góp phần tạo nên những "cánh đồng 5 tấn" trên khắp các miền quê miền Bắc như Thái Bình, Hải Dương, Nam Định. Không dừng lại ở lúa nước, ông còn nghiên cứu, cải tạo và nhân giống thành công nhiều loại cây lương thực, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như dưa hấu không hạt, chuối ăn tươi, khoai lang, táo Vạn Lộc… Từ đó đảm đảm cho nền an ninh lương thực quốc gia, đề “gạo không thiếu 1 cân” cho tiền tuyến ruột thịt.

Ảnh 2: Nhà nông học Lương Định Của và các cán bộ Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm. (Nguồn Internet)
Không chỉ miệt mài trong nghiên cứu, Giáo sư Lương Định Của còn là một nhà giáo, nhà quản lý tâm huyết. Ông đã đào tạo nên hàng thế hệ kỹ sư, nhà khoa học nông nghiệp giỏi giang cho đất nước; đồng thời luôn đi sâu, đi sát thực tế, trực tiếp xắn quần lội ruộng cùng nông dân trên khắp các hợp tác xã. Có lần, khi đi ông tác, đi qua những cánh đồng, thấy bà con nông dân vẫn canh tác kiểu cũ, mất công và năng suất không cao, ông liền xuống xe góp ý. Các bà nông dân thấy một ông một ông từ thành phố đi xe xuống, lại góp ý về chuyện cấy lúa thì tỏ ra khinh thường. Ông Của đã xắn quần, lội xuống ruộng lúa, cầm nắm mạ trên tay bà con cấy nhanh thoăn thoắt, thẳng hàng tăm tắp. Khi ấy, ông đã sử dụng kỹ thuật “cấy ngửa tay” để lúa không bị ngập quá sâu xuống bùn. CÙng với các kỹ thuật canh tác được ông đưa vào từ nước ngoài - chủ yếu là Nhật bản, ông còn đề xuất các mô hình canh tác “bờ vùng, bờ thửa”, “cấy nông tay thẳng hàng”, “bảo đảm mật độ”, được hàng triệu nông dân Việt Nam áp dụng thành công trên diện rộng. Giữa những năm tháng miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, hình ảnh vị Giáo sư Tiến sĩ đầu ngành xắn quần cao qua gối, đội nón lá, chân trần lội bùn hướng dẫn bà con từng kỹ thuật gieo cấy đã trở thành biểu tượng cao đẹp về sự gắn bó khăng khít giữa tri thức khoa học và giai cấp công nông Việt Nam. Bà con nông dân gọi gọi ông là “bác Của” theo cách thân mật dân dã của người trong nhà chứ không phải vì ông là “bác sĩ”. Họ cũng gọi những thành tựu khoa học của ông một cách đơn giản và thân mật như vậy: “lúa ông Của”, “khoai ông Của”, “dưa lê ông Của”,...

Hình ảnh 3: Nhà Nông học Lương Định của và các nông dân (Nguồn: Internet)
Trong cuộc đời hoạt động khoa học thầm lặng nhưng hiển hách của Giáo sư Lương Định Của, có một câu chuyện dung dị đã trở thành giai thoại kinh điển, được trân trọng đưa vào chương trình giáo dục phổ thông (bài đọc "Nâng niu từng hạt giống" - Sách giáo khoa Tiếng Việt 3, NXB Giáo dục Việt Nam theo chương trình giáo dục 2006) để giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam về tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nghề sâu sắc. Đó chính là câu chuyện về cách ông nâng niu, bảo vệ 10 hạt thóc giống quý giữa mùa đông giá rét của miền Bắc.
Những năm tháng miền Bắc mới bước ra khỏi chiến tranh, nền nông nghiệp còn vô cùng thiếu tốn và lạc hậu. Một lần, Viện Nghiên cứu Nông lâm nhận được quà tặng là 10 hạt thóc giống lúa mới vô cùng quý hiếm từ nước ngoài gửi biếu. Đúng lúc đó, miền Bắc lại bước vào một đợt rét đậm, rét hại kéo dài, nhiệt độ xuống rất thấp. Giữa thời tiết băng giá ấy, việc gieo trồng thông thường cầm chắc nguy cơ hạt giống bị thối mầm hoặc chết rét. Đứng trước nhiệm vụ sinh tử phải giữ bằng được nguồn gen quý cho đất nước, Giáo sư Lương Định Của đã quyết định tiến hành một thí nghiệm dũng cảm và đầy tính sáng tạo.
Ông chia 10 hạt thóc giống ra làm hai phần bằng nhau để thử nghiệm đối chứng phương pháp bảo quản. 5 hạt đầu tiên, ông mang gieo trong phòng thí nghiệm theo đúng quy trình kỹ thuật tiêu chuẩn lúc bấy giờ. 5 hạt còn lại, ông tự tay ngâm nước ấm, gói cẩn thận vào một chiếc khăn bông ẩm. Đêm đến, khi đi ngủ, ông trùm chăn ấp gói hạt giống ấy vào sát lồng ngực mình, dùng chính hơi ấm cơ thể giữ nhiệt, bảo vệ mầm sống nhỏ bé quý giá trước cái lạnh như cắt thịt của đêm đông Bắc Bộ.
Kết quả thực tiễn đã chứng minh cho tư duy khoa học nhạy bén và tình yêu nghề cháy bỏng của ông: 5 hạt thóc gieo trong phòng thí nghiệm do không chịu nổi cái rét khắc nghiệt đã nảy mầm rồi lụi tàn; trong khi 5 hạt thóc được ủ ấm bằng thân nhiệt của bác Của đã nảy mầm xanh tốt. Từ 5 mầm lúa sống sót kiên cường ấy, qua nhiều vụ tỉ mẩn nhân giống và khảo nghiệm trên đồng ruộng, ông đã tạo ra những giống lúa mới cho năng suất cao, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh lương thực cho hậu phương miền Bắc trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Câu chuyện 10 hạt thóc giống không chỉ là một bài học lịch sử về phương pháp nghiên cứu thực chứng nghiêm túc, mà còn là biểu tượng cao đẹp về nhân cách của một nhà khoa học chân chính. Ở Giáo sư Lương Định Của, tri thức không nằm ở những lý thuyết suông trên trang sách hay không gian phòng thí nghiệm ấm cúng, mà nó gắn liền với từng hơi thở của đồng ruộng, từng niềm vui hay nỗi lo mất mùa của người nông dân lao động. Sự trân trọng từng mầm sống ấy chính là viên gạch nền móng đặt nền đề kháng cho nông nghiệp nước nhà vươn lên tự chủ.
Từ những mầm lúa nhỏ bé được ấp ủ bằng cả trái tim và trí tuệ, cuộc đời cống hiến của Giáo sư Lương Định Của đã nở rộ những thành tựu khoa học vĩ đại, làm thay đổi hẳn diện mạo nền nông nghiệp Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến và kiến thiết đất nước. Trong bối cảnh miền Bắc vừa phải sản xuất vừa dốc toàn lực làm hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến miền Nam, vấn đề an ninh lương thực là bài toán sống còn quyết định thắng lợi của cách mạng. Đáp ứng yêu cầu cấp thiết đó, Bác Của đã cùng các cộng sự tại Viện Khoa học Nông nghiệp nghiên cứu, lai tạo và phóng thích thành công hàng loạt bộ giống lúa, cây trồng mới có năng suất cao, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện khắc nghiệt vượt trội.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Nhìn rộng ra bình diện lịch sử và cách mạng, những thành tựu của Giáo sư Lương Định Của vượt lên trên ý nghĩa của những thông số khoa học thuần túy. Đó là sự đóng góp thiết thực vào đường lối chiến lược của Đảng và Nhà nước ta trong việc kết hợp giữa khoa học kỹ thuật với sản xuất nông nghiệp, đưa khoa học về với đồng ruộng, về với người lao động nghèo. Bác Của đã minh chứng một chân lý sáng ngời: Sự nghiệp cách mạng của Nhân dân không chỉ cần những khẩu súng trên chiến trường, mà còn cần những hạt lúa vàng trên mặt trận sản xuất. Trí tuệ, mồ hôi và cả tâm huyết của ông đã hòa quyện vào dòng chảy bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, để lại một di sản khoa học vô giá, góp phần vững chắc vào công cuộc thống nhất non sông và phát triển đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Những cống hiến vĩ đại, bền bỉ và đầy hy sinh của Giáo sư, Tiến sĩ Lương Định Của cho nền khoa học nông nghiệp và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đã được Đảng, Nhà nước cùng Nhân dân đời đời ghi nhớ và tôn vinh bằng những phần thưởng cao quý nhất.
Năm 1967, với những thành tựu xuất sắc trong công tác chọn tạo giống lúa và đóng góp to lớn vào phong trào thâm canh tăng vụ, nâng cao năng suất nông nghiệp miền Bắc, ông đã vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Đây là sự ghi nhận đặc biệt dành cho một trí thức lớn đã đem toàn bộ tài năng, trí tuệ gắn liền với ruộng đồng và người nông dân Việt Nam. Bên cạnh đó, ông còn được trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, cùng nhiều huy chương và phần thưởng cao quý khác.
Không chỉ dừng lại ở những tấm huân chương và danh hiệu khi còn sống, di sản của Bác Của vẫn tỏa sáng rực rỡ và sống mãi trong các thế hệ mai sau. Tên tuổi của ông đã được trân trọng đặt cho nhiều con đường lớn tại các thành phố trọng điểm như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Sóc Trăng... nhằm nhắc nhở thế hệ trẻ về một nhân cách khoa học lớn. Đặc biệt, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã lập ra và duy trì Giải thưởng Lương Định Của hàng năm – phần thưởng cao quý trao tặng cho những thanh niên tiêu biểu có thành tích xuất sắc trong sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế nông thôn, khởi nghiệp và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Giải thưởng này chính là sự tiếp nối ngọn lửa đam mê, tinh thần lao động sáng tạo và khát vọng cống hiến vì sự giàu đẹp của quê hương mà sinh thời Giáo sư Lương Định Của hằng mong ước.

Hình ảnh 4: Giải thưởng Lương Định Của (Nguồn: Internet)
Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp oanh liệt nhưng vô cùng dung dị của Giáo sư, Anh hùng Lao động Lương Định Của, chúng ta càng thấm thía hơn giá trị của những hy sinh thầm lặng phía sau hòa bình và độc lập dân tộc. Từ một trí thức từng bước chân vào các viện nghiên cứu danh giá bậc nhất thế giới tại Nhật Bản với tương lai rạng ngời, ông đã tự nguyện khép lại vinh hoa cá nhân để trở về mái nhà chung Việt Nam – nơi những năm tháng ấy còn chìm trong khói lửa chiến tranh, đói nghèo và muôn vàn trắc trở. Trọn cuộc đời ông gắn liền với bùn đất, với từng hạt lúa, củ khoai, biến phòng thí nghiệm thành đồng ruộng và lấy niềm vui, sự ấm no của người nông dân làm thước đo cao quý nhất cho thành công khoa học.
Hành trình ấy để lại cho thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay những bài học sâu sắc và thiêng liêng vô giá. Giữa thời đại hội nhập và phát triển, khi đất nước đang vững bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa để vươn tầm thế giới, tinh thần của Bác Của vẫn luôn là ngọn đuốc soi đường. Đó là bài học về lòng yêu nước chân chính – không chỉ bằng những lời hô hào lớn lao mà bắt nguồn từ trách nhiệm thiết thực với cộng đồng, với từng mảnh đất quê hương. Đó là tinh thần hiếu học khát khao vươn lên đỉnh cao trí thức nhân loại, học để làm chủ bản thân, làm chủ khoa học kỹ thuật và phụng sự nhân dân. Và trên hết, đó là tác phong lao động nghiêm túc, sự kiên định, nhẫn nại ví như việc nâng niu từng hạt thóc giống qua mùa đông giá rét, để từ đó gieo mầm cho những mùa vàng ấm no của Tổ quốc.
Hôm nay, kế thừa truyền thống vẻ vang từ các bậc tiền bối đi trước, thế hệ trẻ Việt Nam – những học sinh, sinh viên và thanh niên trên mọi miền đất nước – càng phải tự nhắc nhở bản thân sống có lý tưởng, có hoài bão, dám nghĩ, dám làm và dám dấn thân. Ngọn lửa đam mê khoa học và tình yêu đồng bào sâu nặng của Giáo sư Lương Định Của sẽ mãi là nguồn cảm hứng bất tận, tiếp thêm sức mạnh để tuổi trẻ nước nhà vững bước tiến lên, góp sức mình viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc trong kỷ nguyên mới.
NGUỒN THAM KHẢO: Báo nhân dân, Internet, Báo Thể thao & Văn hóa


