Nhà sử học Trần Huy Liệu
Trần Huy Liệu sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo quê làng Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông được đào tạo là để làm quan hay chí ít cũng là một nhà nho. Nhưng số phận, hay nói đúng hơn là tấm lòng yêu nước, thương dân sớm nảy nở từ năm Trần Huy Liệu còn là một cậu bé 13,14 tuổi.
Sớm được tiếp xúc và thấu hiểu cuộc sống khốn khó của người dân lao động nghèo, chàng trai trẻ đã luôn khao khát tìm cho mình một con đường lập thân khác, chứ không phải là “theo chân cụ Khổng”. Con đường ấy cụ thể là gì, ban đầu Trần Huy Liệu cũng chưa thể mường tượng rõ cho mình. Con đường ấy chỉ trở nên rõ ràng hơn khi Trần Huy Liệu có cơ hội được tiếp xúc với “nền học mới” đang được các sĩ phu Đông Kinh Nghĩa Thục thời bấy giờ và qua những bài thơ ca yêu nước của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục và thơ ca từ hải ngoại gửi về. Từ lúc ấy, con đường mà Trần Huy Liệu ao ước mình sẽ đi lâu dài, đó chính là con đường cách mạng, cứu dân, cứu nước. Cuối năm 1923, Trần Huy Liệu theo Bùi Trình Khiêm-người thày học, một nhà nho cấp tiến- rời quê hương vào Sài Gòn để thực hiện ước mơ. Thời ấy, để nói lên tâm trạng của mình trước thời cuộc, phương cách tốt nhất là viết báo. Nhưng không phải cứ muốn là được ngay. Phải mất gần một năm, sau khi phải bươn chải đủ nghề để kiếm sống, tháng 6/1924, Trần Huy Liệu mới được giới thiệu vào làm chủ bút cho tờ Nông cổ mím đàm - một tờ báo ra đời ở Nam Kỳ từ năm 1901-do Lâm Hiệp Châu làm chủ nhiệm. Có lẽ không ai táo bạo như Trần Huy Liệu. Vừa vào vùng đất mới, công việc mới, ngay bài báo đầu tiên trên tờ Nông cổ phím đàm, tân chủ bút Trần Huy Liệu đã làm “cuộc cách mạng”khi chuyển hướng tờ báo từ chuyên bàn về nghề nông sang bàn về chính trị với bài bình về tiếng bom yêu nước của liệt sỹ Phạm Hồng Thái ở Quảng Châu trong bài viết nhan đề “Tiếng bom Sa Điện ở Quảng Châu”, ký bút danh Đẩu Nam. Bài báo bị Ty kiểm duyệt xóa thì ông lại lấy bút danh Côi Vị. Vẫn thấy tư tưởng chống Pháp, chúng lại gạch bỏ.Bị nhiều lần “gạch xóa” liên tục như thế cho đến ngày thực dân Pháp quyết định đình bản tờ Nông cổ mím đàm. Không nản chí, Trần Huy Liệu cùng một số đồng nghiệp xuất bản tập Ngòi bút sắt. Trên tờ báo này, ông bắt đầu tập trung tố cáo chính sách bóp nghẹt báo chí và quyền tự do ngôn luận của thực dân Pháp. Vừa ra được một số, thì tờ Ngòi bút sắt lại bị thực dân Pháp cho đình bản. Nhưng mọi cánh cửa vẫn chưa khép lại với Trần Huy Liệu. Cuối năm 1924, mến mộ ngòi bút của Trần Huy Liệu, Chủ nhiệm tờ Đông Pháp thời báo mời ông về làm chủ bút. Trên tờ báo này, với bút hiệu Đẩu Nam, Côi Vị, ông lại tiếp tục công kích chính sách bóp nghẹt quyền tự do dân chủ, tự do báo chí của thực dân Pháp, góp phần biến Đông Pháp thời báo thành trung tâm của phong trào yêu nước, đòi tự do dân chủ ở Nam Kỳ. Chính Trần Huy Liệu cùng tờ báo này đã cổ động tích cực cho phong trào để tang Phan Chu Trinh, đón rước Bùi Quang Chiêu, đòi thả Nguyễn An Ninh... rầm rộ trong những năm 1925 – 1926. Cuối năm 1926, khi người chủ tờ Đông Pháp thời báo ngả sang xu hướng thân Pháp, Trần Huy Liệu quyết định từ chức chủ bút để khỏi “trông thấy tờ báo trở thành cơ quan tuyên truyền cho bọn dối dân lừa nước”.
Đầu năm 1927, Trần Huy Liệu sáng lập tờ Pháp Việt nhất gia do chính ông làm chủ bút. Pháp Việt nhất gia đã góp phần tích cực chống chủ nghĩa “Pháp Việt đề huề” của Đảng lập hiến do Bùi Quang Chiêu cầm đầu. Tờ báo ra được 27 số thì bị đình bản. Với tư cách chủ bút, ông bị bắt và bị kết án 6 tháng tù tại khám lớn Sài Gòn. Đầu năm 1928, ra khỏi tù, Trần Huy Liệu lại sáng lập Cường học thư xã, chuyên xuất bản những sách mang nội dung yêu nước, góp phần giúp cho nhiều thanh niên được giác ngộ cách mạng, thổi luồng gió mới vào phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX. Có thể nói, cuộc đời của Trần Huy Liệu, làm cách mạng gắn chặt với việc làm báo cách mạng.
Cuối năm 1929, thực dân Pháp đàn áp các tổ chức cách mạng, Trần Huy Liệu bị kết án 5 năm tù cấm cố, đày ra Hòn Cau (Côn Đảo). Chốn địa ngục trần gian vẫn không ngăn nổi người cách mạng duy trì niềm đam mê của mình. Trong tù, Trần Huy Liệu vẫn viết báo với bút danh Hải Khách; làm chủ bút tờ Hòn Cau và Tiếng sóng bể. Trong những năm bị tù ở Côn Đảo, ông đã tiếp thu Chủ nghĩa Cộng sản, tuyên bố ly khai Quốc dân Đảng, tự nguyện đứng vào hàng ngũ những người Cộng sản. Từ đây, ông có nhiều đóng góp cho cách mạng , cho sự nghiệp báo chí cách mạng Việt Nam cũng như cho nền sử học nước nhà. Ra tù năm 1934, bất chấp lệnh quản thúc, bất chấp mọi thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ, đe dọa của thực dân Pháp, Trần Huy Liệu vẫn lao ngay vào mặt trận báo chí, lập Nhà xuất bản Đông Dương để tuyên truyền truyền thống dân tộc và khích lệ lòng yêu nước. Bằng ngòi bút lão luyện, ông lần lượt làm cho các tờ: Đời mới, Bắc hà, Tiếng vang, Kiến văn, Hồn trẻ, Tiếng trẻ, Le travail, Rassemblement, En avant, Hà thành thời báo, Thời thế, Bạn dân... Cũng không khác thời kỳ làm báo ở Sài Gòn, cũng bởi không khí yêu nước, đòi tự do, dân chủ hòa bình hừng hực trên các trang báo, nên tờ báo nào Trần Huy Liệu làm chủ bút, cứ được một thời gian, xuất bản được 10, 15 số, thực dân Pháp “tức mắt” không chịu nổi lại ra lệnh đình bản.
Nhưng khí tiết của một cây viết giờ đã được vinh dự đứng trong hàng ngũ những người cộng sản, được Đảng phân công hoạt động trên mặt trận báo chí, đã khiến Trần Huy Liệu không những không nhụt chí mà còn tích cực hoạt động hơn nữa. Khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra hoạt động công khai và cho xuất bản tờ Tin tức (4/1938), Trần Huy Liệu được giao trọng trách là chủ bút tờ báo này. Tin tức đã trở thành một tờ báo có uy tín, trở thành người bạn thân thiết của hầu hết các tầng lớp nhân dân, nhất là nhân dân lao động. Khi tờ Tin tức bị đóng cửa, Xứ ủy Bắc kỳ quyết định ra tờ Đời nay để làm vũ khí đấu tranh, Trần Huy Liệu lại được cử làm chủ bút.
Tháng 10/1939, Trần Huy Liệu lại một lần nữa bị địch bắt. Tại nhà tù Sơn La, ông cùng Xuân Thủy sáng lập, làm chủ bút tờ Suối reo (lưu hành bí mật trong tù). Những ngày bị chuyển về nhà tù Bá Vân, Nghĩa Lộ, Trần Huy Liệu lại cùng các đồng chí của mình sáng lập hai tờ báo Dòng sông Công, Đường nghĩa, góp phần tích cực vào việc cổ vũ tinh thần đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng trong tù.
Đầu năm 1945, vượt ngục trở về hoạt động, Trần Huy Liệu lại được Đảng phân công làm tại Tòa soạn báo Cứu quốc - Cơ quan tuyên truyền của Tổng bộ Việt Minh. Trong thời kỳ Chính phủ lâm thời, ngay cả khi đã được giao trọng trách Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền, nghiệp làm báo vẫn đeo đuổi ông. Có thời kỳ ông là chủ bút báo Sao Vàng. Trong những năm tháng cuối của cuộc đời, mặc dù đã chuyển sang nghiên cứu lịch sử, nhưng ông không ngừng viết báo và còn trực tiếp làm Tổng biên tập Tạp chí Văn-Sử-Địa, Tạp chí Nghiên cứu Lịch Sử. Không những chỉ là người làm báo, mà Trần Huy Liệu còn một nhà nghiên cứu lịch sử báo chí với nhiều công trình có giá trị. Trong hồi ký của mình, Trần Huy Liệu (1901-1969) đã khẳng định rằng, trong cuộc đời tham gia cách mạng, ông đã hai lần được sống trong những giây phút sung sướng nhất, đó là khi thảo Quân lệnh số 1 phát lệnh Tổng khởi nghĩa toàn quốc của Ủy ban Kháng chiến trong Cách mạng tháng Tám và nhận ấn kiếm thoái vị của vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng triều Nguyễn.
Về việc thảo Quân lệnh số 1 phát lệnh tổng khởi nghĩa : “Đêm 13/8, trong một căn nhà lợp lá, tôi được đồng chí Văn (đồng chí Võ Nguyên Giáp) ủy quyền cho thảo bản Quân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa. Mặc dù ngồi dưới ngọn đèn tù mù, những con tầm xuân, con thiêu thân bay quanh tới tấp, muỗi và dĩn thi nhau đốt làm tôi nhiều lúc nẩy người lên hay đập chân bành bạch, tôi vẫn say sưa nghĩ đến cảnh nước mất, dân nhục từ hơn tám mươi năm, nghĩ đến sự nghiệp cách mạng của mấy thế kỷ qua; những cuộc khởi nghĩa của Văn thân, của Việt Nam Quốc dân Đảng cho đến ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương”. Vì vậy “Bản Quân lệnh số 1 lúc ấy tôi thảo một mạch, đọc đi đọc lại vẫn không sửa chữa một chữ nào. Viết xong tôi trao cho anh Văn… Thế là cuộc tổng khởi nghĩa đã phát động”(Hồi ký Trần Huy Liệu).


