Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Nhà sư Trần Liên – Tấm lòng yêu nước nơi cửa Phật

Ông Trần Văn Liên (tên thường dùng là Xã Vụ) sinh ngày 05 tháng 5 năm 1822, tại thôn Trung Lý, làng Thành Hiện, xã Phổ Vinh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, ông xuất thân trong một gia đình Nho giáo. Do có được một ít chữ nghĩa, cộng với khí chất thông minh, năm 1867 ông được đề cử giữ chức xã Trưởng, sau 02 năm công tác cho chế độ thực dận phong kiến ông ý thức được rằng Quan trường trong chế độ nô lệ, còn nhục hơn nhiều những hạn dân đen. Ngày 7 tháng Giêng năm Quý Tỵ (1869) ông rời bỏ quê nhà, tham gia cuộc cách mạng Cần Vương nhưng bị bại lộ, ông chạy thoát vào Nam kỳ, lên vùng Thất Sơn truyền đạo, tạo chùa, lo lễ nghi tế tự. Sau gần hơn 20 năm xuất gia đạo Phật ông tạo dựng nhiều chùa như: Chùa Giồng Trôm (Bến Tre) (năm 1889); chùa Thất Sơn (năm 1893); chùa Tà Lơn (năm 1897); chùa núi Ông Cấm (năm 1901); chùa núi Ông Cắt (núi Két) (năm 1905); chùa Vồ Ông Bướm (năm 1908); chùa núi Dài (năm 1913); chùa núi Đá Dựng (năm 1917); chùa Phú Quốc ( năm 1922); chùa Tô Châu (năm 1927); chùa núi Ông Trọi (Campuchia) (năm 1930); chùa Kỳ Vân (năm 1935); chùa Quảng Thông (năm 1940). Mùng 01 tháng 4 năm 1942 ông đến dựng 1 cái am nhỏ trên Gò cao giồng Sa Rài (nay thuộc ấp Công Tạo, xã Bình Phú, huyện Tân Hồng). Năm tháng tu hành trôi qua, nhờ đức độ được nhiều đệ tử quý trọng chung tay dựng 1 ngôi chùa (tiền thân của chùa Phước Thiện – Di tích lịch sử văn hoá cấp Tỉnh). Trong quá trình tu hành ông thường khuyên bảo mọi người ăn hiền, ở lành, biết yêu đồng bào, yêu đất nước, ngôi chùa nơi nhà sư Trần Liên tu hành còn là nơi ủng hộ, nuôi chứa cán bộ, du kích , những người làm cách mạng… Bọn Nhật, bọn Pháp luôn nghi ngờ rồi bắt giam ông, khảo tra, nhưng không đủ bằng chứng buộc tôi nên đành phải thả ông. Năm 1946, thực dân Pháp nhiều lần dội bom, bắn pháo và cho tàu chiến càn vào địa bàn của xã, nhà sư Trần Liên huy động tín đồ, phật tử đắp cản Sâm Sai để ngăn tàu giặc và đào 02 con kênh Gò Suông và Gò Ồi tạo điều kiện cho nhân dân và cán bộ du kích dễ bề đi lại, tăng gia sản xu

Quảng Trị19/08/2026Phường Thường Lạc (Phường Thường Lạc)6 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông Trần Văn Liên (tên thường dùng là Xã Vụ) sinh ngày 05 tháng 5 năm 1822, tại thôn Trung Lý, làng Thành Hiện, xã Phổ Vinh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, ông xuất thân trong một gia đình Nho giáo.

Do có được một ít chữ nghĩa, cộng với khí chất thông minh, năm 1867 ông được đề cử giữ chức xã Trưởng, sau 02 năm công tác cho chế độ thực dận phong kiến ông ý thức được rằng Quan trường trong chế độ nô lệ, còn nhục hơn nhiều những hạn dân đen.

Ngày 7 tháng Giêng năm Quý Tỵ (1869) ông rời bỏ quê nhà, tham gia cuộc cách mạng Cần Vương nhưng bị bại lộ, ông chạy thoát vào Nam kỳ, lên vùng Thất Sơn truyền đạo, tạo chùa, lo lễ nghi tế tự.

Sau gần hơn 20 năm xuất gia đạo Phật ông tạo dựng nhiều chùa như: Chùa Giồng Trôm (Bến Tre) (năm 1889); chùa Thất Sơn (năm 1893); chùa Tà Lơn (năm 1897); chùa núi Ông Cấm (năm 1901); chùa núi Ông Cắt (núi Két) (năm 1905); chùa Vồ Ông Bướm (năm 1908); chùa núi Dài (năm 1913); chùa núi Đá Dựng (năm 1917); chùa Phú Quốc ( năm 1922); chùa Tô Châu (năm 1927); chùa núi Ông Trọi (Campuchia) (năm 1930); chùa Kỳ Vân (năm 1935); chùa Quảng Thông (năm 1940).

Mùng 01 tháng 4 năm 1942 ông đến dựng 1 cái am nhỏ trên Gò cao giồng Sa Rài (nay thuộc ấp Công Tạo, xã Bình Phú, huyện Tân Hồng). Năm tháng tu hành trôi qua, nhờ đức độ được nhiều đệ tử quý trọng chung tay dựng 1 ngôi chùa (tiền thân của chùa Phước Thiện – Di tích lịch sử văn hoá cấp Tỉnh).

Trong quá trình tu hành ông thường khuyên bảo mọi người ăn hiền, ở lành, biết yêu đồng bào, yêu đất nước, ngôi chùa nơi nhà sư Trần Liên tu hành còn là nơi ủng hộ, nuôi chứa cán bộ, du kích , những người làm cách mạng…

Bọn Nhật, bọn Pháp luôn nghi ngờ rồi bắt giam ông, khảo tra, nhưng không đủ bằng chứng buộc tôi nên đành phải thả ông.

Năm 1946, thực dân Pháp nhiều lần dội bom, bắn pháo và cho tàu chiến càn vào địa bàn của xã, nhà sư Trần Liên huy động tín đồ, phật tử đắp cản Sâm Sai để ngăn tàu giặc và đào 02 con kênh Gò Suông và Gò Ồi tạo điều kiện cho nhân dân và cán bộ du kích dễ bề đi lại, tăng gia sản xuất, chống giặc càn bố.

Năm 1950, nhà sư Trần Liên được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam, bố trí sinh hoạt tại chi bộ xã Tân Hộ Cơ phụ trách vận động tín đồ trong khu vực tham gia cách mạng. Sau hiệp định Giơnevơ ông không đi tập kết mà được bố trí ở lại tiếp tục hoạt động.

Do tuổi già sức yếu nhà sư Trần Liên viên tịch ngày mùng 06 tháng 3 năm Kỷ Dậu, nhầm ngày 15 tháng 8 năm 1969.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn