Nhà thơ của Trường Sơn
Nhà thơ của Trường Sơn:
Một đêm, sau một trận bom, ông ngồi bên vệ đường, nhìn những chiếc xe không còn kính chắn gió. Gió lùa thẳng vào buồng lái, bụi đỏ phủ kín mặt người lính. Nhưng họ vẫn cười.Ông lẩm nhẩm viết:
“Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi…”
Bài thơ ấy sau này trở thành Bài thơ về tiểu đội xe không kính – một biểu tượng của thơ ca thời chiến. Những năm tháng ở Trường Sơn không chỉ có thơ. Có những ngày đói, những đêm sốt rét, những lần chứng kiến đồng đội ngã xuống mà không kịp nói lời cuối. Nhưng điều lạ là, trong ký ức của ông, chiến tranh không chỉ có đau thương. Nó còn có Tiếng cười của người lính trẻ, những ánh mắt lạc quan giữa gian khổ, những câu chuyện tình yêu vụng dại,… Ông từng viết về hai phía Trường Sơn – Đông và Tây – như hai nửa của một câu chuyện tình, trong bài Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây.
Chiến tranh kết thúc, ông rời chiến trường, mang theo không chỉ ký ức mà còn cả một “kho” thơ được viết bằng chính cuộc đời mình. Người ta gọi ông là “nhà thơ Trường Sơn”, nhưng có lẽ đúng hơn, ông là người đã biến chiến tranh thành thơ – không tô hồng, không bi lụy, mà rất thật, rất đời. Những câu thơ của ông không chỉ kể về bom đạn, mà kể về con người những con người trẻ tuổi, dám sống, dám cười, và dám đi qua chiến tranh bằng một tinh thần không cúi đầu.
Có thể nói, cuộc đời Phạm Tiến Duật là minh chứng cho sức mạnh của văn chương. Một người lính bình thường nhờ ngòi bút đã trở thành bất tử. Ông không cầm súng nhiều như đồng đội, nhưng ông cầm bút để viết ra sức mạnh của cả một thế hệ. Và đôi khi, chính những câu chữ ấy lại mạnh mẽ, không kém bất kì một loại vũ khí nào. Cuộc đời chiến tranh của Phạm Tiến Duật không phải là câu chuyện của một anh hùng theo nghĩa truyền thống, đó là câu chuyện của một người lính sống giữa cái chết, viết giữa tiếng bom và giữ được tâm hồn thi sĩ ngay trong “lửa”. Chính vì thế, khi đọc thơ ông, người ta không chỉ thấy chiến tranh – mà còn thấy tuổi trẻ.


