Nhà thơ, liệt sĩ Lê Anh Xuân: Viết bằng máu nóng trái tim mình
Nhà thơ, liệt sĩ Lê Anh Xuân: Viết bằng máu nóng trái tim mình
Cái tứ của hai câu thơ "Anh chẳng để lại gì cho anh trước lúc lên đường/ Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ…" trong "Dáng đứng Việt Nam", một trong những tác phẩm để đời của Lê Anh Xuân và câu chuyện "thơ vận vào người" là hành trình bi tráng, oanh liệt của những văn nghệ sĩ "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước".
Cùng thích thơ văn, đàn hát nên việc tìm hiểu được gì, học được gì ở trường chị em đều mang về chia sẻ cho nhau trở thành những niềm vui nho nhỏ mỗi ngày. 12 tuổi, Ca Lê Hiến vào làm cho nhà in Trần Đình Trọng. Bài thơ đầu tiên của em được in trên báo tường. Ca Lê Hồng không còn nhớ nội dung nhưng ngày đó hai chị em rất vui. Năm 1954, gia đình tập kết ra Bắc chỉ còn người chị thứ 2, Ca Lê Du ở lại quê nhà hoạt động. Ca Lê Hồng vào đoàn văn công còn em trai về học tập trung tại trường dành cho con em miền Nam ở Hải Phòng.
Năm 1959, Ca Lê Hiến mới về học trường Nguyễn Trãi, Hà Nội, năm 1960 thì vào Trường Đại học Tổng hợp. Hai chị em không còn thường xuyên bên nhau như những năm thơ ấu nhưng Ca Lê Hồng vẫn đặc biệt yêu mến cậu em trai. Những thành tích học tập xuất sắc của Hiến cùng các giấy khen của nhà trường trong mỗi cấp học luôn được chị gái tự hào "khoe" với chúng bạn.
Đạo diễn Ca Lê Hồng cũng cho biết, dù sống xa vòng tay yêu thương của cha mẹ rất sớm nhưng Ca Lê Hiến được sự dìu dắt và chịu ảnh hưởng rất lớn từ gia đình, đặc biệt là người cha, ông Ca Văn Thỉnh. Làm gì, anh cũng hay chia sẻ và hỏi ý kiến cha.
Còn nhớ, năm anh vào Đại học Tổng hợp, thích Khoa Văn nhưng nhà trường lại xếp vào Khoa Sử nên rất buồn. Đem chuyện kể với cha, ông khuyên con nên chấp nhận vì Văn và Sử rất gần nhau. Ca Lê Hiến nghe lời cha học Khoa Sử. Vốn ham học hỏi, thông minh nên không có gì bất ngờ khi anh là một trong những sinh viên xuất sắc của trường. Cùng thời điểm này, Ca Lê Hiến cũng bắt đầu sáng tác nhiều hơn. Khi viết xong thường mang ra đọc hoặc gửi cho ba má và anh chị xem rồi góp ý.
Cũng như bao người con miền Nam xa quê khác, Ca Lê Hiến luôn đau đáu hướng về phương Nam, đặc biệt là quê hương Bến Tre yêu dấu. Thế nên, không có gì khó hiểu khi những sáng tác của anh luôn chở nặng những hoài niệm tuổi thơ với quê nội, bóng dừa… Năm 1961, "Nhớ mưa quê hương" ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong sự nghiệp sáng tác của anh. Tác phẩm được giải Nhì cuộc thi thơ của tạp chí Văn Nghệ.
"Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ" - Đoạn kết bi tráng của nhà thơ anh hùng
Năm 1964, người cán bộ trẻ của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Ca Lê Hiến một mực xin trở về miền Nam chiến đấu, giải phóng quê hương.
Đạo diễn Ca Lê Hồng kể rằng, mặc dù có lo lắng vì Ca Lê Hiến khá mảnh khảnh nhưng quyết định của người em trai được tất cả người thân ủng hộ. Ngày ấy, được trở về chiến đấu trên quê hương cũng là niềm mong ước của rất nhiều người con miền Nam. Tất nhiên, Ca Lê Hiến cũng không nằm ngoài số đó.
Trong lá thư tranh thủ viết cho anh chị vào vài giờ trước lúc khoác ba lô lên đường, Ca Lê Hiến chia sẻ rằng: "Em rất xúc động, "vừa thấy rạo rực, háo hức, vừa thấy bâng khuâng khi sắp xa anh em, xa những người thân yêu. Em biết rồi đây những khó khăn thử thách mới rồi sẽ đến, thậm chí có thể hy sinh nữa nhưng không vì thế mà làm giảm sút quyết tâm đi Nam…".
Sau này, trong suốt hành trình vượt Trường Sơn về Nam cho đến những tháng ngày được đắm mình giữa quê hương Bến Tre, giữa sự bao bọc của người họ hàng, làng xóm đều được ghi chép tỉ mỉ trong từng trang nhật ký, chuyển vào những lá thư đầy ắp yêu thương cho người thân ngoài Bắc và tất nhiên là không thể thiếu trong các tác phẩm của anh. Hàng loạt những "đứa con tinh thần" ăm ắp hơi thở cuộc sống và đầy sức chiến đấu thi nhau chào đời dưới bút danh Lê Anh Xuân cho đến ngày anh hy sinh (24/5/1968).
Kể về anh giai đoạn ấy, nhà văn Từ Sơn nhận xét: "Hiến đã làm quen với kiểu sáng tác theo đơn đặt hàng của tổ chức ngay từ những ngày đầu nhận công tác: viết truyện anh hùng, viết trường ca Nguyễn Văn Trỗi, làm ca dao…
Điều đáng nói là nhận công việc này Hiến rất hào hứng chứ không vì áp lực của cấp trên. Sáng tác, dù chỉ là một đoạn ca dao, một từ khúc cho điệu vọng cổ hoặc dân ca Nam Bộ để phục vụ công tác tuyên truyền, Hiến vẫn viết bằng trái tim đầy cảm xúc về tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu chiến sĩ, đồng bào, tình yêu đối với Hà Nội và hậu phương lớn miền Bắc… Vì thế, những gì Hiến viết ra đều có sức truyền cảm lớn, đều thấm đượm ngọn lửa nhiệt tình cách mạng". Thực tế, rất nhiều những sáng tác ấy không chỉ nhanh chóng đi vào đời sống, phục vụ tuyên truyền mà còn được giới chuyên môn đánh giá rất cao.
Năm 2001, 3 tác phẩm: tập thơ "Tiếng gà gáy", "Hoa dừa" và trường ca Nguyễn Văn Trỗi đã giúp ông vinh dự được truy tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Riêng "Dáng đứng Việt Nam", bài thơ Lê Anh Xuân viết trước khi hy sinh không lâu trở thành tác phẩm "nằm lòng" của nhiều thế hệ.



