Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: Khúc tráng ca "Đất Nước của Nhân dân" và dấu ấn người lãnh đạo tư tưởng
Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin; nhà thơ lớn của nền văn học cách mạng với tư tưởng "Đất Nước của Nhân dân".

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: Khúc tráng ca "Đất Nước của Nhân dân" và dấu ấn người lãnh đạo tư tưởng
Đồng chí Nguyễn Khoa Điềm là một gương mặt đặc biệt tiêu biểu trong thế hệ trí thức – văn nghệ sĩ cách mạng trưởng thành từ khói lửa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Vừa là một nhà thơ lớn với giọng điệu trữ tình – chính luận sâu lắng, vừa là một nhà hoạt động chính trị giữ nhiều trọng trách cao cấp của Đảng và Nhà nước, cuộc đời ông là sự hòa quyện trọn vẹn giữa ngòi bút phụng sự nhân dân và lý tưởng cách mạng kiên trung.
1. Truyền thống gia đình và ngọn lửa đấu tranh đô thị Huế
Nguyễn Khoa Điềm sinh ngày 15 tháng 4 năm 1943 tại thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, quê gốc tại làng An Cựu (nay thuộc phường An Cựu, thành phố Huế). Ông sinh trưởng trong một dòng họ khoa bảng và trí thức yêu nước lẫy lừng: thân phụ là nhà phê bình văn học, nhà cách mạng Hải Triều (Nguyễn Khoa Văn), bà nội là nữ sĩ Đạm Phương.
Năm 1955, ông tập kết ra Bắc học tại trường học sinh miền Nam và tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964. Ngay sau khi ra trường, người trí thức trẻ đã tình nguyện trở về miền Nam, dấn thân vào phong trào đấu tranh sôi sục của học sinh, sinh viên và trí thức đô thị Huế.
Trong thời kỳ hoạt động cơ sở nội đô đầy hiểm nguy, ông bị chính quyền Sài Gòn bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ. Đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ông được quân giải phóng và quần chúng giải thoát, sau đó tiếp tục lên chiến khu miền Tây Thừa Thiên xây dựng cơ sở cách mạng, làm báo, viết văn và cầm súng bảo vệ quê hương.
2. Tiếng thơ từ chiến hào: "Đất Nước của Nhân dân"
Chính từ những năm tháng gian khổ, bám trụ nơi chiến trường ác liệt Trị – Thiên, hồn thơ Nguyễn Khoa Điềm đã bừng nở. Năm 1971, tại chiến khu Tây Thừa Thiên, ông đã hoàn thành bản trường ca bất hủ "Mặt đường khát vọng" (trong đó có chương thơ trứ danh "Đất Nước").
Bằng tư duy trí tuệ sắc sảo kết hợp với chất liệu văn hóa dân gian sâu lắng, ông đã mang đến một định nghĩa hoàn toàn mới mẻ và nhân văn về Tổ quốc:
"Để Đất Nước này là Đất Nước của Nhân dân
Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại..."
Bên cạnh trường ca Mặt đường khát vọng, các tác phẩm tiêu biểu khác như tập thơ Đất ngoại ô (1973), bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, hay tập ký Cửa thép (1972) đã trở thành vũ khí tinh thần sắc bén, thức tỉnh tinh thần yêu nước của thế hệ trẻ đô thị miền Nam xuống đường chống Mỹ. Với những cống hiến lớn lao cho nền văn học nước nhà, ông đã vinh dự được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (năm 2001).
3. Người lãnh đạo xuất sắc trên mặt trận tư tưởng, văn hóa
Sau ngày thống nhất non sông, đồng chí Nguyễn Khoa Điềm trải qua nhiều cương vị lãnh đạo: Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế, Thứ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin, Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam (khóa V).
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin.
Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001), đồng chí được tín nhiệm bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương).
Trên cương vị lãnh đạo tư tưởng, văn hóa của Đảng, ông luôn kiên định nền tảng tư tưởng cách mạng, đồng thời trân trọng, cổ vũ đổi mới tư duy sáng tạo nghệ thuật, lắng nghe và tập hợp đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ cả nước đồng hành cùng sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
4. Về lại "Cõi lặng" cố đô
Sau khi hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao phó, đồng chí Nguyễn Khoa Điềm trở về sống thanh bạch, giản dị tại quê nhà thành phố Huế. Giữa không gian trầm mặc của xứ Huế, ông tiếp tục sáng tác và cho ra đời tập thơ Cõi lặng (2007) – như một sự đúc kết trầm tư, an nhiên của một người đã đi trọn vẹn qua những năm tháng bão táp hào hùng của dân tộc.



