Bài viết

Nhà thơ Nguyễn Khuyến

Ninh Bình04/05/2026Trần Quỳnh Dương (xã Bình Giang)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong dòng chảy văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX, Nguyễn Khuyến nổi lên như một đỉnh cao của thơ Nôm, là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam” với tiếng cười trào phúng sâu cay và nỗi buồn thời thế thấm vào từng câu chữ.

Nguyễn Khuyến tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu Quế Sơn, tự Miễn Chi, sinh năm 1835 tại làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo nhưng hiếu học, ông sớm bộc lộ tư chất thông minh. Năm 1871, ông đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, Hội, Đình, nên người đời gọi là “Tam Nguyên Yên Đổ”. Đây là vinh dự hiếm có trong lịch sử khoa cử phong kiến.

Làm quan dưới triều Nguyễn được 12 năm, từng giữ chức Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên, nhưng Nguyễn Khuyến luôn giữ cốt cách thanh liêm. Chứng kiến cảnh triều đình bạc nhược, đất nước từng bước rơi vào tay thực dân Pháp, năm 1884 ông cáo quan về quê dạy học, sống đời ẩn dật. Từ đó đến khi mất năm 1909, ông gắn bó với thôn quê, lấy nghề dạy học và làm thơ làm vui. Chính hoàn cảnh “tiến bất đắc dĩ, thoái bất thành danh” ấy đã hun đúc nên hồn thơ Nguyễn Khuyến: vừa gắn bó với làng quê, vừa u hoài trước thời cuộc.

Nguyễn Khuyến để lại khoảng 800 bài thơ, câu đối bằng cả chữ Hán và chữ Nôm. Nhưng đóng góp lớn nhất của ông là ở thơ Nôm, với hai mảng đặc sắc: trữ tình và trào phúng.

Ở mảng trữ tình, ông là người vẽ nên bức tranh thu kinh điển của làng quê Bắc Bộ. Chùm thơ thu Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh đã thành mẫu mực. Cảnh thu trong thơ ông thanh sơ, vắng lặng: “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo / Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Cảnh tĩnh để nói cái động của lòng người: nỗi cô đơn, nỗi buồn thời thế của một nhà nho bất đắc chí. Tình bạn trong thơ ông cũng vô cùng cảm động. Bạn đến chơi nhà dùng toàn cái “không” để nói cái “có” là tình tri kỷ: “Bác đến chơi đây ta với ta”. Khóc Dương Khuê là tiếng khóc bạn, khóc cho cả một thế hệ nhà nho tài hoa mà lỡ vận.

Ở mảng trào phúng, Nguyễn Khuyến dùng tiếng cười làm vũ khí. Ông cười bọn khoa bảng dởm trong Tiến sĩ giấy, cười thói sính ngoại kệch cỡm, cười cả xã hội thực dân nửa Tây nửa ta lố lăng. Tiếng cười của ông không ồn ào như Tú Xương mà thâm trầm, sâu cay, càng ngẫm càng đau. Đó là tiếng cười của một trí thức yêu nước nhưng bất lực trước thời cuộc.

Thơ Nguyễn Khuyến đưa ngôn ngữ dân gian Bắc Bộ lên đỉnh cao nghệ thuật. Ông dùng từ ngữ thuần Nôm, khẩu khí đời thường, nhiều từ láy tượng thanh, tượng hình rất đắt: “lơ thơ”, “vèo”, “eo sèo”, “lặng lẽ”. Bút pháp tả cảnh ngụ tình của ông đạt đến độ tinh tế. Thiên nhiên trong thơ không chỉ là cảnh, mà là tâm trạng: cái vắng của ao thu, cái lạnh của gió heo may đều là cái vắng, cái lạnh trong lòng người.

Giọng điệu thơ ông đa thanh: khi thì hóm hỉnh, chua chát; khi thì đằm thắm, thiết tha; khi lại trầm buồn, thở dài. Chính sự phức tạp ấy làm nên sức hấp dẫn và chiều sâu cho thơ Nguyễn Khuyến.

Nguyễn Khuyến cùng với Tú Xương hợp thành hai đỉnh cao của văn học trào phúng Việt Nam trung đại. Ông còn được Xuân Diệu tôn vinh là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam” bởi không ai viết về nông thôn đồng bằng Bắc Bộ hay và ám ảnh như ông. Thơ ông vừa kết tinh vẻ đẹp giản dị, thanh bình của quê hương, vừa ghi lại nỗi đau của một dân tộc, một tầng lớp trí thức trong buổi giao thời.

Hơn một thế kỷ đã trôi qua, đọc Nguyễn Khuyến ta vẫn thấy ao thu “lạnh lẽo nước trong veo”, vẫn nghe tiếng cười buồn về Tiến sĩ giấy, vẫn thấm thía tình bạn “bác đến chơi đây ta với ta”. Đó là sức sống của một tâm hồn lớn, một nghệ sĩ lớn, người đã dùng thơ để giữ lại hồn quê và nỗi đau của một thời.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn