Người có công giúp đỡ cách mạng

NHÀ THƠ TỐ HỮU VÀ HÀNH TRÌNH TRỞ THÀNH LÃNH ĐẠO CẤP CAO CỦA ĐẤT NƯỚC.

Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành, bí danh Lành, sinh ngày 4/10/1920 tại thành phố Huế, trong một gia đình nhà nho có truyền thống yêu văn chương. Ông là người dân tộc Kinh, quê gốc ở vùng đất Thừa Thiên Huế, nơi đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn thơ ca và ý thức yêu nước của ông từ rất sớm. Nhắc đến Tố Hữu, người ta nhớ ngay đến một nhà thơ lớn của nền văn học cách mạng Việt Nam. Nhưng bên cạnh sự nghiệp thơ ca, ông còn là một nhà hoạt động chính trị có vị trí quan trọng trong nhiều giai đoạn lịch sử của đất nước. Cuộc đời ông gần như gắn liền với cách mạng, với công tác tư tưởng, văn hóa, tuyên truyền và giáo dục của Đảng.

An Giang22/08/2026Phường Long Phú (Đoàn phường Long Phú)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành, bí danh Lành, sinh ngày 4/10/1920 tại thành phố Huế, trong một gia đình nhà nho có truyền thống yêu văn chương. Ông là người dân tộc Kinh, quê gốc ở vùng đất Thừa Thiên Huế, nơi đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn thơ ca và ý thức yêu nước của ông từ rất sớm. Nhắc đến Tố Hữu, người ta nhớ ngay đến một nhà thơ lớn của nền văn học cách mạng Việt Nam. Nhưng bên cạnh sự nghiệp thơ ca, ông còn là một nhà hoạt động chính trị có vị trí quan trọng trong nhiều giai đoạn lịch sử của đất nước. Cuộc đời ông gần như gắn liền với cách mạng, với công tác tư tưởng, văn hóa, tuyên truyền và giáo dục của Đảng.

Từ thuở thiếu niên, Tố Hữu đã sớm tiếp xúc với phong trào yêu nước. Năm 1936, khi mới 16 tuổi, ông tham gia Đoàn Thanh niên Cộng sản. Đây là bước ngoặt lớn đưa ông đến với con đường cách mạng. Năm 1938, ông phụ trách công tác tuyên truyền và thanh vận của Thành ủy Huế. Cũng trong giai đoạn này, hồn thơ Tố Hữu bắt đầu  bừng sáng. Thơ ông không chỉ là tiếng nói của cảm xúc cá nhân, mà còn là tiếng gọi của lý tưởng, của niềm tin và khát vọng đổi đời.

Tháng 4/1939, Tố Hữu bị thực dân Pháp bắt. Ông bị kết án 2 năm tù và giam tại Huế. Trong tù, do kiên quyết đấu tranh chống tra tấn, ông bị tăng án, rồi bị đày đi Lao Bảo, Buôn Ma Thuột và sau đó là trại tập trung Đắclay ở Kon Tum. Những năm tháng tù đày khắc nghiệt không làm ông khuất phục. Trái lại, đó chính là môi trường thử thách ý chí, hun đúc bản lĩnh và làm sâu sắc thêm chất chiến đấu trong thơ ông.

Tháng 3/1942, Tố Hữu vượt ngục, tìm đường về Thanh Hóa và tham gia xây dựng lại cơ sở cách mạng. Từ năm 1943 đến năm 1945, ông giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, đồng thời tham gia Ban lãnh đạo Chiến khu Quang Trung. Sau cuộc đảo chính Nhật – Pháp, ông được Trung ương phái vào tổ chức ủy ban khởi nghĩa ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và liên lạc với các đồng chí hoạt động cách mạng ở Nam Trung Bộ.

Tháng 8/1945, trong khí thế sục sôi của Cách mạng Tháng Tám, Tố Hữu là Phó Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên Huế. Ông góp phần quan trọng vào việc tổ chức lực lượng, vận động quần chúng và giành chính quyền tại Huế, một trung tâm chính trị đặc biệt quan trọng lúc bấy giờ.

Năm 1946, Tố Hữu được điều ra Trung ương phụ trách công tác văn hóa và thanh niên. Đến cuối năm, ông lại được điều về làm Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa. Từ năm 1947 đến năm 1950, ông lên Việt Bắc, phụ trách công tác văn nghệ và làm Trưởng Tiểu ban Văn nghệ Trung ương. Tháng 9/1950, khi Trung ương Đảng thành lập Ban Tuyên truyền do Tổng Bí thư Trường Chinh phụ trách, Tố Hữu được phân công làm Trưởng ban.

Tháng 2/1951, tại Đại hội Đảng lần thứ II, Tố Hữu được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 7/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 39-SL bổ nhiệm ông giữ chức Giám đốc Nha Thông tin thuộc Phủ Thủ tướng.

Năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Genève, Tố Hữu giữ chức Phó Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương, đồng thời là Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật. Năm 1955, ông trở thành Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1958, ông được cử vào Ban Bí thư Trung ương Đảng, làm Phó Trưởng ban Tuyên huấn, rồi Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương.

Tháng 9/1960, tại Đại hội Đảng lần thứ III, Tố Hữu tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ban Bí thư. Ông cũng là Đại biểu Quốc hội khóa II. Năm 1968, ông giữ chức Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương và Trưởng ban Khoa học – Giáo dục Trung ương. Năm 1969, ông làm Giám đốc Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc Trung ương, sau này là Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, nay là Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Năm 1972, ông kiêm Trưởng ban Thống nhất Trung ương.

Tháng 12/1976, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, Tố Hữu được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được bầu làm Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng. Ông phụ trách Ban Tuyên huấn Trung ương, Ban Khoa giáo Trung ương và tiếp tục làm Giám đốc Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc.

Tháng 3/1980, ông được bầu làm Ủy viên chính thức Bộ Chính trị. Trước đó, tháng 2/1980, ông được cử giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Năm 1981, ông là Đại biểu Quốc hội khóa VII, được Quốc hội cử làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Ủy viên Hội đồng Quốc phòng.

Tháng 3/1982, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, Tố Hữu tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và giữ chức Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Bộ trưởng đến tháng 6/1986. Từ tháng 6/1986, ông phụ trách công tác tư tưởng và văn hóa của Đảng. Đến tháng 10/1991, ông được Bộ Chính trị phân công tham gia tổng kết, nghiên cứu một số vấn đề về tư tưởng, văn hóa, giáo dục và khoa học.

Bên cạnh sự nghiệp chính trị, Tố Hữu để lại dấu ấn sâu đậm trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Ông được xem là lá cờ đầu  của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ ông gắn liền với từng chặng đường lịch sử của dân tộc, từ thời kỳ đấu tranh bí mật, Cách mạng Tháng Tám, kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cho đến những năm đất nước thống nhất.

Các tập thơ tiêu biểu của ông gồm: “Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa”, “Một tiếng đờn”, “Ta với ta”. Trong đó, “Từ ấy” được xem là tiếng reo vui của người thanh niên bắt gặp lý tưởng cách mạng. “Việt Bắc” là bản tình ca chính trị đặc sắc, ghi lại tình nghĩa thủy chung giữa cán bộ kháng chiến và đồng bào chiến khu. Nhiều câu thơ của Tố Hữu đã trở nên quen thuộc với nhiều thế hệ người Việt Nam.

Thơ Tố Hữu giàu nhạc điệu, dễ nhớ, dễ thuộc, kết hợp giữa cảm xúc trữ tình và lý tưởng chính trị. Ông không viết thơ như một người đứng ngoài quan sát lịch sử, mà viết bằng chính trái tim của người trong cuộc. Bởi vậy, thơ ông vừa mang hơi thở thời đại, vừa phản ánh tâm trạng, niềm tin và khát vọng của cả một thế hệ.

Tố Hữu qua đời ngày 9/12/2002. Ông ra đi ở tuổi 82, để lại một di sản lớn trong cả lĩnh vực chính trị và văn học. Cuộc đời ông là hành trình của một người chiến sĩ, một nhà lãnh đạo công tác tư tưởng – văn hóa, đồng thời là một nhà thơ lớn đã dùng ngòi bút của mình để đồng hành cùng vận mệnh dân tộc.

Dù có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về thơ ca và vai trò chính trị của Tố Hữu, không thể phủ nhận rằng ông là một trong những gương mặt có ảnh hưởng sâu rộng nhất của văn học cách mạng Việt Nam thế kỷ XX. Tên tuổi ông gắn với một thời đại nhiều biến động, nơi thơ ca không chỉ để bộc lộ tâm hồn, mà còn trở thành tiếng nói của lý tưởng, niềm tin và khát vọng độc lập, thống nhất đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn