Cựu chiến binh

Nhà thơ Trần Cầu và những ký ức về một thời hoa lửa

Lạng Sơn11/01/2026trường Tiểu học Lợi Bác (đoàn xã Lợi Bác)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tiếp xúc với nhà thơ Trần Cầu, chúng tôi luôn thấy ở ông sự cẩn trọng, gần gũi và khiêm tốn. Ông chia sẻ: “Tôi không trực tiếp cầm súng chiến đấu như những chiến sĩ khác mà chỉ là chiến sĩ Ban Tác chiến Đại đoàn 316 (nay là Sư đoàn 316) viết mật lệnh và vẽ bản đồ nên không có đóng góp gì nhiều đâu”. Nghe ông nói vậy nhưng chúng tôi đều hiểu rằng ông và những chiến sĩ khác trong Ban Tác chiến đã lặng thầm đóng góp công sức của mình vào thắng lợi chung của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ông là hội viên duy nhất của Hội Văn học nghệ thuật tỉnh tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Mới đây, ông vinh dự được tham gia chương trình Gặp mặt chiến sĩ Điện Biên, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, thân nhân liệt sĩ trực tiếp tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ do Ban Thường vụ Tỉnh ủy tổ chức. Chúng tôi đến gặp nhà thơ Trần Cầu sau buổi Gặp mặt do Tỉnh ủy tổ chức. Ông phấn khởi khoe: “Được gặp lại nhiều bạn bè năm xưa, những ký ức về thời chiến tranh lại như ùa về”. Ông cẩn thận đưa cho chúng tôi xem những tài liệu, bức ảnh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ được ông cất giữ cẩn thận suốt 70 năm qua. Đây là những kỷ vật không bao giờ quên về một thời gian khó, nhưng đầy kiên cường, bất khuất. Lần giở từng tấm ảnh, kỷ vật, ông Cầu bắt đầu kể lại cho chúng tôi những năm tháng thời trai trẻ tham gia chiến đấu. Năm 1952, ông học hết chương trình phổ thông. Cả huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên quê ông lúc bấy giờ chỉ có vài người hoàn thành chương trình này. Ông được lựa chọn tham gia học tại một trường đào tạo sĩ quan ở Bắc Ninh rồi sau đó sẽ phải phục vụ cho Pháp. Không chấp nhận điều đó, ông cùng một số thanh niên chung chí hướng đã trốn lên ATK Định Hóa Thái Nguyên để tìm cách gia nhập bộ đội. Mang trong mình tinh thần thanh niên sôi sục, nóng lòng muốn cống hiến sức trẻ cho Tổ quốc, các ông đã đi bộ 28 ngày đêm liên tục, cuối cùng cũng đến được ATK. Ban đầu ông ở Tiểu đoàn 56 trực thuộc Bộ Tổng Tư lệnh rồi sau đó tham gia vào Đại đoàn 316. Đầu năm 1954, ông cùng đồng đội hành quân lên Tây Bắc, trực tiếp tham gia chiến trường Điện Biên với vai trò là thành viên Ban Tác chiến Đại đoàn 316. Là người chữ viết đẹp, rõ ràng lại có năng khiếu hội họa, ông được giao nhiệm vụ viết lệnh và vẽ bản đồ tác chiến. Lúc bấy giờ yếu tố bí mật luôn đặt lên hàng đầu, ai nấy đều tuân theo nguyên tắc “không hỏi, không biết, không nói”. Những thông tin mật chủ yếu được truyền tải qua lệnh chỉ huy yêu cầu viết tay rồi giao cho chiến sĩ liên lạc gửi đi.Ông còn đảm nhận nhiệm vụ bóc tách và vẽ lại bản đồ từ một tấm bản đồ to ra nhiều bản đồ nhỏ, chi tiết hơn để phục vụ cho trinh sát và hành quân, chiến đấu. Không trực tiếp cầm súng nhưng ông Cầu được sống và cảm nhận không khí cam go của cuộc chiến qua mỗi dòng thông tin viết truyền lệnh tới các đơn vị. Ông lặng người trước thông tin quân ta hi sinh nhiều và vui mừng tự hào trước những tin chiến thắng dồn dập gửi về. Mỗi lệnh ông viết ra như chứa đựng bao cảm xúc, tình cảm ở trong đó.Chiến dịch bước vào giai đoạn quyết định, tất cả các thành viên trong Ban Tác chiến đều phải tập trung cao độ, luôn túc trực sẵn sàng nhận lệnh. Anh em tranh thủ chợp mắt hoặc gật gù tí, có lệnh lại bật phắt dậy. Có người bị sốt rét rừng đang phải điều trị cũng gắng sức làm nhiệm vụ. Ai nấy đều tự nhủ và nhận thức rằng mình cần phải nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ. Để anh em nơi chiến sự có điều kiện thuận lợi nhất để chiến đấu.Ông nhớ mãi giây phút khi quân ta giành chiến thắng toàn diện ở chiến dịch Điện Biên Phủ. Khoảnh khắc hạnh phúc đó đã theo ông suốt 70 năm qua. Ông hồ hởi kể: “Lúc đó đang thu dọn bản đồ, tài liệu thì thấy Sư đoàn trưởng nghe điện thoại, rồi hô to lên “Thắng rồi, thắng rồi, anh em ơi!”. Ai nấy đều reo lên mừng rỡ rồi lao vào ôm nhau…”.Chia sẻ về những ấn tượng khi trực tiếp tham gia chiến dịch Điên Biên Phủ, ông Cầu nhớ lại: Lúc bấy giờ cũng như nhiều chiến sĩ khác, tôi ấn tượng nhất là việc thay đổi chiến thuật của quân ta từ đánh nhanh, giải quyết nhanh sang đánh chắc, tiến chắc. Đây là thay đổi mang tính chất bước ngoặt lịch sử và thực tế đã chứng minh tính đúng đắn của thay đổi này. Ấn tượng thứ hai là Ban Tác chiến của Đại đoàn 316 tham gia phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, hiệu quả với lực lượng công binh chiến dịch, góp phần vào thắng lợi của Ðại đoàn trong chiến đấu tiêu diệt cứ điểm A1; đồng thời tác động tới thắng lợi của đợt 3 và thắng lợi chung của toàn Chiến dịch. Điện Biên Phủ được giải phóng, ông lại có mặt trong đoàn quân từ ATK Thái Nguyên tiến về tiếp quản Hà Nội ngày 10/10/1954. Mở tấm ảnh quý chụp chung cùng đồng đội trong ngày về tiếp quản Thủ đô, ông vui mừng kể: Ngày ấy, chúng tôi còn trẻ lắm. Ai cũng háo hức, vui mừng cùng đoàn quân trở về Thủ đô trong không khí đón chào của người dân. Tôi không bao giờ quên được khoảnh khắc thiêng liêng ấy. Hòa bình lập lại, ông được cử đi học luyện kim, trở thành kỹ sư luyện kim. Học xong cũng là lúc công trường xây dựng Khu Gang thép được mở ra. Cuối năm 1959 đầu 1960 ông trở thành một trong những người đầu tiên tham gia xây dựng Khu Gang thép Thái Nguyên. Khi những lò luyện gang đầu tiên được dựng lên, ông làm trưởng ca, rồi làm chủ nhiệm ca của cả 3 lò cao luyện gang. Mẻ gang đầu tiên của nền công nghiệp luyện kim nước nhà có sự góp công bằng khối óc và bàn tay của kỹ sư cấp cao Trần Cầu. Sau này ông làm Bí thư Đảng ủy Xưởng Gang, cống hiến cho sự nghiệp Gang thép cho đến khi nghỉ hưu.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn