Anh hùng Lực lượng vũ trang

nhà thơ xứ Đoài - "TÂY TIẾN"

Hà Nội27/10/2026Xã Lộc Quang (Đoàn xã Lộc Quang)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nhà thơ Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Dậu, sau này vì thiếu tuổi đi học, phải mượn tên của người anh họ là Bùi Đình Diệm, ông sinh năm Tân Dậu 1921 tại làng Phượng Trì, tổng Đại Phùng, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội). Cụ thân sinh của ông tên là Bùi Đình Khuê trước làm Chánh tổng tổng Đại Phùng. Vì cụ thuộc lớp nho học nên dân trong vùng còn hay gọi là cụ Tú Khuê. Cụ mất từ năm 1942.

Trước Cách mạng tháng Tám 1945 với nhiệt huyết yêu nước của tuổi thanh niên mới lớn còn bồng bột, Quang Dũng tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng với mục đích để đánh Tây. Ông từng làm thư ký cho Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, một trong những chủ soái của Tự lực Văn Đoàn và là lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân Đảng. Sau đó được cử sang Trung Quốc hoạt động, trong thời gian ở Quảng Châu, ông đã theo học và tốt nghiệp trường quân sự Hoàng Phố nổi tiếng của Trung Quốc. Tại trường này ông đã gặp và quen với Hoàng Sâm, người mà ba năm sau là Đội trưởng đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của QĐND Việt Nam) và được phong Thiếu tướng đợt đầu tiên năm 1948.

Năm 1945, Quang Dũng tốt nghiệp Ban Trung học của trường Thăng Long, không kỳ vọng gì ở Việt Nam Quốc dân Đảng ông rời khỏi Đảng này và đi dạy học tư ở Sơn Tây kiếm sống. Khi Hoàng Sâm chỉ huy Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tiến về Sơn Tây để bảo vệ chính quyền mới thành lập ở khu vực Tây – Tây Bắc Hà Nội thì gặp lại Quang Dũng. Với sự vận động của Hoàng Sâm vào ngày 19 tháng 8 năm 1945, ông đã bỏ tất cả để gia nhập quân đội. Được tướng Hoàng Sâm giới thiệu và tiến cử Quang Dũng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Vai trò đầu tiên của ông là phóng viên tiền phương của báo Chiến Đấu. Đến năm 1947, ông được gửi đi học ở trường bổ túc trung cấp quân sự Sơn Tây. Sau khóa học, ông được điều về làm đại đội trưởng trong tiểu đoàn 212, thuộc trung đoàn 52 Tây Tiến. Ông đã tham dự chiến dịch Tây Tiến đợt hai, mở đường qua Tây Bắc. Chính trong chiến dịch Tây Tiến này, Quang Dũng và những người con yêu của đất nước, đủ thành phần, hầu hết là thanh niên học sinh người Hà Nội, đã trải qua những tháng ngày cực kỳ gian khổ và cũng tràn đầy tính cách hào hùng, bi tráng, quyết liệt. Năm 1948 “Tây Tiến” ra đời trong hoàn cảnh đó.

2. Quãng đời lận đận, khốn khó

Dù ông tốt nghiệp trường quân sự Hoàng Phố, tham gia nhiều trận, nhiều chiến dịch, tham gia đoàn quân Tây Tiến, nhưng ông vẫn cứ giữ mãi chức cao nhất là đại đội trưởng. Và phải giải ngũ năm 1951.

Sau 1954, khi về Hà Nội, ai cũng vẫn được bố trí công tác nhưng ông thì không. “Tây Tiến” bị phê bình nghiêm trọng, những hình ảnh chân thực, bi hùng của đoàn quân Tây Tiến bị mổ xẻ. Bài thơ Tây Tiến ngày đó luôn được xem như một dẫn chứng để phê phán khuynh hướng tiểu tư sản trong thơ kháng chiến. Người ta cho rằng thơ ông lãng mạn, đồi trụy, tiểu tư sản, đang trong lúc toàn dân sôi sục đánh giặc Pháp thì lại làm thơ tơ tưởng về những cô gái Hà Nội dáng kiều thơm làm chao đảo và nhụt chí khí chiến đấu của toàn dân, toàn quân.

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

Trong Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm của một số văn nghệ sĩ và trí thức sống ở miền Bắc những năm 1955-1958, ông bị gửi đi chỉnh huấn sau vụ Nhân Văn – Giai Phẩm. Quang Dũng lặng lẽ “chìm xuồng” dành lui về ẩn thân.

Bài thơ “Tây tiến” nổi tiếng của ông trở thành nỗi oan gia không chỉ cho ông mà cho cả gia đình ông. Con gái nhà thơ, chị Bùi Phương Hạ làm cô giáo, ra trường không xin được vào biên chế, phải rời bỏ thủ đô xung phong vào khu kinh tế mới Hà Nội tại Nam Ban (Lâm Đồng) xa xôi đến ba năm mới được vào biên chế. Thương con còn trẻ, vất vả nơi “rừng thiêng, nước độc”, ông cũng lặn lội vào để chăm sóc cho con. Còn con trai cả nhạc sĩ Bùi Quang Vĩnh cũng phải phiêu bạt lên công tác tại Thái Nguyên.

Cuộc đời của ông lận đận cho đến ngày qua đời tại bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội.

Ở miền Bắc, từ sau 1954 thơ của ông bị phê bình trên báo chí vì mang hơi hướng “tiểu tư sản”, thiếu tính chiến đấu nên cấm lưu hành, còn ở miền Nam thì được xuất bản, ngâm thơ, phổ nhạc, lưu truyền rộng rãi và được rất nhiều người yêu thích. Chất hào sảng, lãng mạn đậm nét chinh chiến phong trần trong “Tây Tiến” đã chiếm lĩnh bền sâu trong muôn tâm hồn đồng điệu, vượt qua thời gian, vượt qua giới tuyến, xóa nhòa mọi khoảng cách địa lý. Cho đến tận bây giờ, có lẽ đây là bài thơ duy nhất của người lính miền Bắc được ngay cả những người lính miền Nam cũng yêu thích chép lại trong sổ tay.

Tại miền Nam (trước 1975), Bài thơ Tây Tiến cùng các tác phẩm khác của Quang Dũng (Đôi mắt người Sơn Tây) còn được đưa vào giảng dạy trong chương trình trung học, được xuất bản, ngâm thơ và phổ nhạc rộng rãi.

Ngoài những “vấn đề” trên thì còn có một nguyên nhân khác mà ông vẫn nén chặt trong lòng, rất ít người biết. Đó là ông có người em trai nắm trọng trách trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa ở bên kia “chiến tuyến”, mang hàm Thiếu tướng 2 sao.

3. Về người em trai ở bên kia “chiến tuyến”.

Năm 1946, ông Bùi Đình Đạm tốt nghiệp Tú tài toàn phần chương trình Pháp tại Hà Nội. Sau đó, ông được tuyển dụng làm công chức tại Hà Đông. Năm 1948, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp và theo học khóa 1 Bảo Đại tại trường Võ bị Huế. Chức vụ cuối cùng trong Quân đội Liên hiệp Pháp là Tham mưu trưởng trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức với cấp bậc Thiếu tá.

Sau khi Việt Nam Cộng hòa ra đời (ngày 26/10/1955), ông chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Ông được thăng chức dần dần trong những năm sau đó, lên tới Đại tá, Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh năm 1962 và được thăng cấp bậc thiếu tướng (2 sao) năm 1970. Năm 1973, ông được cử giữ chức Tổng Giám đốc Tổng Nha Nhân lực Bộ Quốc Phòng và giữ chức này cho đến hết tháng 4/1975.

Sau khi ngày 30/4/1975, ông cùng gia đình di tản sang ra khỏi Việt Nam và định cư tại San Jose, California (Hoa Kỳ) và ở đó cho đến ngày qua đời (năm 2009). Ông Đạm rất hiếu học, mặc dù với nhiều trọng trách trong Quân đội nhưng ông vẫn tiếp tục trau dồi thêm văn hóa và kiến thức. Ông từng đi du học nghành Quản Trị tại Pháp những năm 1950-1952. Ông từng tốt nghiệp cử nhân văn khoa Viện Ðại học Sài Gòn năm 1970. Năm 1983, ông tốt nghiệp Cao học Xã hội (MSW) tại Viện Đại học San Jose, California, Hoa Kỳ. Ông đã viết và xuất bản tác phẩm “Những áng văn hay” với bút danh Đan Phượng.

Bài thơ Tây Tiến cũng như thân phận tác giả đã nếm đủ nỗi thăng trầm thế sự, hơn 40 năm tưởng chừng đã đi vào quên lãng, nhưng Tây Tiến vẫn vượt qua sức cản phá của thời gian, đã trở thành bất tử, có chỗ đứng vĩnh viễn trong lòng người thưởng ngoạn.

Bài thơ Tây Tiến hôm nay đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường, được khắc vào bia đá, bia tưởng niệm các liệt sỹ và ghi chiến tích Trung đoàn 52 Tây Tiến dựng ở Mai Châu (Hòa Bình).

Năm 2001, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Và bài thơ Tây Tiến trở thành một trong những kiệt tác đỉnh cao của thi ca kháng chiến Việt Nam

Đây chính là phần thưởng tinh thần, là điều an ủi lớn nhất cho vong linh của nhà thơ xứ Đoài nơi chín suối.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn