NHÀ TRƯNG BÀY CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI CHIẾN THẮNG CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI 1950.
" Di tích lịch sử địa điểm Chiến thắng Biên giới 1950" Khu di tích nằm trên địa bàn huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, là nơi có vị trí chiến lược quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp của dân tộc ta.
Di tích được phân bố trên địa bàn 3 xã và một thị trấn của huyện Thạch An bao gồm 04 cụm di tích:
1. Cụm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến thắng chiến dịch Biên giới năm 1950, xã Đức Long, huyện Thạch An.
2. Cụm di tích cứ điểm Đông Khê, thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An.
3. Cụm di tích Khau Luông, xã Đức Xuân, huyện Thạch An.
4. Cụm di tích Cốc Xả - Điểm cao 477, xã Trọng Con, huyện Thạch An
Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến thắng chiến dịch Biên giới năm 1950 nằm trong cụm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến thắng chiến dịch Biên giới năm 1950 thuộc xóm Bản Pò và xóm Bản Mới của xã Đức Long, huyện Thạch An. Nhà tưởng niệm nằm trong khuôn viên rộng 5.000m2 , được thiết kế theo dáng dấp kiến trúc nhà sàn Cao Bằng gồm 7 gian, hai trái, tổng diện tích hai sàn là 326 m2. Nhà gồm 02 công năng: dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và trưng bày tài liệu hiện vật liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chiến dịch Biên giới 1950.
Nội dung gồm 5 phần:
1. Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch Biên giới 1950
2. Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp ra mặt trận chỉ đạo chiến dịch động viên quân dân chiến đấu
3. Chiến thắng chiến dịch Biên giới 1950
4. Đóng góp của nhân dân các dân tộc Cao Bằng trong chiến dịch Biên giới 1950
5. Bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến thắng Chiến dịch Biên giới 1950.
I. Chủ đề 1: Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch Biên giới 1950
Đầu năm 1950, tình hình thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến có lợi cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam: Trung Quốc (18/01/1950), Liên Xô (ngày 30/01/1950) và các nước dân chủ Nhân dân công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cục diện trên chiến trường giữa ta và địch chuyển sang thế cầm cự giằng co. Đặc biệt sau chuyến công tác bí mật của Chủ tịch Hồ Chí Minh đầu năm 1950, sang Liên Xô, Trung Quốc đã thỏa thuận với Chủ tịch Hồ Chí Minh một số giải pháp hỗ trợ cho cuộc kháng chiến của ta. Trước tình hình thế giới và trong nước thuận lợi, nhằm nhanh chóng kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tháng 6/1950 Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch Biên giới lấy tên là chiến dịch Lê Hồng Phong II.
Dự cuộc họp có các đồng chí: ( từ trái sang) Đồng chí Trường Chinh – Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng, Tổng Bí thư; Đ/c Hồ Chí Minh - Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng, Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Đ/c Phạm Văn Đồng - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Đ/c Lê Văn Lương – Bí thư văn phòng thường vụ Trung ương Đảng, kiêm trưởng ban Đảng vụ ( trưởng ban tổ chức Trung ương); Đ/c Hoàng Quốc Việt - Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng; Đ/c Võ Nguyên Giáp – Ủy viên Trung ương Đảng : Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tổng Tư lệnh quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam.
“ Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng vùng biên giới phía bắc nước ta, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, mở rộng và củng cố căn cứ địa việt bắc, tiến tới giành quyền chủ động trên chiến trường chính”.
Để trực tiếp lãnh đạo quân dân chính đảng thực hiện mục đích của chiến dịch; Tháng 7/1950, Ban thường vụ Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Đảng ủy mặt trận Biên giới.( Quyết định số: 45/QN-TN ngày 25/7/1950 thành lập Đảng ủy Mặt trận Biên giới) gồm 05 đồng chí: Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc gia và Dân quân Việt Nam , Bí thư Đảng ủy; Các Ủy viên gồm: Thiếu tướng Hoàng Văn Thái – Tổng tham mưu trưởng quân đội Quốc gia và dân quân Việt Nam; Đ/ c Trần Đăng Ninh – Tổng cục trưởng Tổng cục cung cấp; Đ/c Lê Liêm – Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Đ/c Bùi Quang Tạo – Phó Bí thư Liên khu ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc.
Và cũng trong tháng 7/1950 thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch Biên giới gồm các đồng chí: Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Bí thư Đảng ủy mặt trận, chỉ huy trưởng chiến dịch; Thiếu tướng Hoàng Văn Thái – Tổng tham mưu trưởng làm chỉ huy trưởng chiến dịch; đ/c Phan Phác – Tổng tham mưu phó làm tham mưu phó chiến dịch; đ/c Lê Liêm – Chủ nhiệm phòng chính trị chiến dịch; đ/c Lê Quang tạo làm Phó chủ nhiệm phòng Chính trị; đ/c Trần Đăng Ninh – Tổng cục trưởng tổng cục cung cấp làm chủ nhiệm phòng Cung cấp; đ/c Bùi Quang tạo – phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính liên khu Việt Bắc làm phó chủ nhiệm phòng cung cấp.
Đồng thời Bộ tư lệnh ra mệnh lệnh mở chiến dịch Biên giới 1950
Lực lượng tham gia chiến dịch Biên giới gồm: Đại đoàn 308 (trung đoàn 36, trung đoàn 88, trung đoàn 102 và tiểu đoàn 16). Hai trung đoàn chủ lực: Trung đoàn 174 và 209, 03 tiểu đoàn độc lập của liên khu Việt Bắc và tiểu đoàn 888 của Lạng Sơn, 04 đại đội pháo binh; 05 đại đội công binh. Ngoài ra còn lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích hai tỉnh Cao Bằng - Lạng Sơn.
( Ảnh nhà ông Lã Văn Ho...) Tháng 8/1950 Bộ chỉ huy chiến dịch Biên giới lên Cao Bằng và đặt sở chỉ huy chiến dịch tại nhà ông Lã Văn Ho, xã Quốc Phong, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
II. Chủ đề 2: Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp ra mặt trận chỉ đạo chiến dịch, động viên quân dân chiến đấu
Kính thưa...
Để động viên tinh thần cán bộ chiến sĩ quyết tâm giành thắng lợi trong chiến dịch Biên giới, ngày 2/9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho các cán bộ chiến sĩ tham gia chiến dịch Biên giới ( bản trích) " Cuộc thi đua “Giết giặc lập công” và chiến dịch Cao - Bắc - Lạng nhất định sẽ thắng lợi. Toàn thể các chiến sĩ tiến lên! Thắng lợi đang chờ các chú.Tôi đang chờ để khen thưởng các chú."
“ HỒ CHỦ TỊCH
Hỡi các chiến sĩ yêu quý
Vệ quốc đoàn,
Bộ đội địa phương
Dân quân du kích
Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng rất quan trọng
Chúng ta quyết đánh thắng trận này.
Để thắng trận này, các chiến sĩ ở mặt trận ấy phải kiên quyết, dũng cảm trăm phần trăm, các chiến sĩ các khu, các mặt trận khác phải ra sức thi đua giết giặc, lập công để hết sức tiêu diệt địch, khiên chế địch, không cho chúng tiếp viện mặt trận Cao - Bắc - Lạng .
Thắng lợi ở Cao - Bắc - Lạng sẽ là thắng lợi chung của các chiến sĩ toàn quốc…
…Ai có công to, Chính phủ sẽ thưởng
Hỡi các chiến sĩ yêu quý,
Bộ đội này thi đua với bộ đội khác, địa phương này thi đua với địa phương khác.
Cuộc thi đua “Giết giặc lập công” và chiến dịch Cao - Bắc - Lạng nhất định sẽ thắng lợi.
Toàn thể các chiến sĩ tiến lên!
Thắng lợi đang chờ các chú.
Tôi đang chờ để khen thưởng các chú.
Chào thân ái và quyết thắng.
Ngày 02 tháng 9 năm 1950
HỒ CHÍ MINH”
Với tầm quan trọng của chiến dịch Biên giới, được sự phân công của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp ra mặt trận chỉ đạo chiến dịch, động viên quân và dân chiến đấu.
Trước ngày lên đường đi chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập đoàn công tác căn dặn và giao nhiệm vụ: “ Chúng ta sẽ đi một chuyến công tác dài ngày, thời gian không thể định trước được nhưng mất chừng một tháng, chuyến đi này rất quan trọng. Đường đi vất vả, vì vậy các chú đều phải cố gắng làm tròn nhiệm vụ của mình, tuyệt đối giữ bí mật, nếu để lộ ra sẽ hại tới việc lớn. Muốn vậy từ việc chọn đường đi tới nới ăn chốn ở, giao thiệp với nhân dân phải biết cách giữ mình”.
Đoàn công tác cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đi chiến dịch gồm 7 người: Chủ tịch Hồ Chí Minh, 4 đ/c bảo vệ, 01 đ/c Bác sĩ và 01 đ/c nhiếp ảnh.
Sáng 5/9/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đoàn công tác rời căn cứ địa Việt Bắc hành quân ra mặt trận, trong chuyến công tác Chủ tịch Hồ Chí Minh và đoàn công tác chủ yếu đi bộ.
Đến chiều ngày 10/9/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đến sở chỉ huy Chiến dịch Biên giới đóng tại nhà ông Lã Văn Ho, Người đã ở và làm việc tại đây từ ngày 10/9 đến hết ngày 12/9/1950.
Tại Sở chỉ huy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo phương án đánh cứ điểm Đông Khê, làm việc với đồng chí Trần Canh – Cố vấn Trung Quốc phương án tác chiến chiến dịch Biên giới 1950.
Dự và chỉ đạo hội nghị bàn phương án tác chiến với các cán bộ chỉ huy đơn vị cấp trung đoàn trở lên và đi đến thống nhất phương án tác chiến: “ đánh điểm diệt viện” và chọn cứ điểm Đông Khê làm trận đánh mở màn cho chiến dịch Biên giới. Người trực tiếp phê chuẩn quyết tâm của Bộ Chỉ huy Chiến dịch gồm bốn bước. " đánh Đông Khê, đánh quân viện của địch lên Đông Khê, đánh Thất Khê, đánh Cao Bằng " Người nhận định: “ Ta đánh vào Đông Khê là ta đánh vào nơi quân địch tương đối yếu nhưng lại là vị trí rất quan trọng của địch trên tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn. Mất Đông Khê, buộc địch phải đưa quân đi ứng cứu, ta có cơ hội thuận tiện tiêu diệt chúng trong vận động"
Từ nhận định trên hội nghị đã thống nhất phương án tác chiến " đánh điểm diệt viện tập trung lực lượng đánh cứ điểm Đông Khê. Trước khi lên đường tiến ra mặt trận Đông Khê, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chụp bức ảnh lưu niệm với các đại biểu dự hội nghị.
Ngày 9/9/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đồng bào Cao – Bắc – Lạng kêu gọi đồng bào 3 tỉnh Cao – Bắc – Lạng cố gắng trong công tác chuẩn bị chiến dịch và phục vụ chiến dịch. "Đồng bào hãy tiến lên làm gương kiểu mẫu cho nhân dân toàn quốc, giúp cho chiến dịch được thắng lợi"
( Nội dung bản trích)
“ Hỡi đồng bào yêu quý,
Quân ta mở chiến dịch trên mặt trận Cao – Bắc – Lạng.
Chiến dịch này rất quan trọng cho Cao – Bắc – Lạng và cho cả toàn quốc.
Đồng bào ba tỉnh đã cố gắng rất nhiều trong việc chuẩn bị chiến dịch như: góp quân lương, sửa đường sá, vận tải, chuyên chở, giúp đỡ bộ đội,..
Tôi trân trọng thay mặt chính phủ và quân đội cảm ơn đồng bào.
Tôi kêu gọi toàn thể đồng bào ba tỉnh, các ủy ban kháng chiến và hành chính, các đoàn thể nhân dân cố gắng thêm nữa, tiếp tục giúp đỡ cho bộ đội ta trước mặt trận để quân ta giết nhiều địch, đánh thắng to.
Đồng bào hãy tiến lên làm gương kiểu mẫu cho nhân dân toàn quốc, giúp cho chiến dịch được thắng lợi
Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 9 tháng 9 năm 1950
Hồ Chí Minh”)
Kính thưa...
Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp ra mặt trận, những lời động viên của người làm cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, đặc biệt là đồng bào Cao - Bắc - Lạng cũng cảm nhận sâu sắc ý nghĩa và tầm quan trọng của chiến dịch Biên giới, là nguồn sức mạnh tinh thần, động viên quân dân ta quyết tâm thắng lợi trong chiến dịch.
Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh quân và dân háo hức, khẩn trương ra mặt trận thi đua giết giặc lập công.
Sáng ngày 13/9/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ chỉ huy chiến dịch rời sở chỉ huy tại nhà ông Lã Văn Ho sang xã Đức Long huyện Thạch An trực tiếp chỉ đạo chiến dịch.
Ngày 14/9/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Sở chỉ huy chiến dịch đóng tại xã Đức Long, huyện Thạch An. Người đã đến ở và làm việc tại hang Không Hẩu và lán " bình dân học vụ" tại Bản Mới, xã Đức Long ở và chỉ đạo chiến dịch Biên giới 1950.
III. Chủ đề 3: Chiến thắng chiến dịch Biên giới 1950
* Trận đánh cứ điểm Đông Khê
Với phương châm tác chiến "đánh điểm diện viện" Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định đánh cứ điểm Đông Khê - mở màn cho Chiến dịch Biên giới 1950.
Cứ điểm Đông Khê là nơi có vị trí chiến lược quan trọng. Từ Đông Khê (Thị trấn trung tâm huyện Thạch An) có thể tỏa đi các hướng: xuống tỉnh Lạng Sơn, lên Thành phố Cao Bằng, sang huyện Phục Hòa qua cửa khẩu Tà Lùng sang Trung Quốc, do vậy việc kiểm soát vị trí chiến lược này sẽ cắt đứt toàn bộ mối liên hệ giữa cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp của dân tộc ta với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và các nước Xã hội Chủ nghĩa, tạo thế bao vây, cô lập tiến tới tiêu diệt hoàn toàn cơ quan đầu não kháng chiến của Việt Minh tại chiến khu Việt bắc, vì vậy Thực dân Pháp đã cho xây dựng dọc tuyến quộc lộ 4a một loạt hệ thống đồn bốt hình thành liên khu biên giới Đông Bắc và cứ điểm hạt nhân là cứ điểm Đông Khê.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ "Ta đánh vào Đông Khê là đánh vào nơi quân địch tương đối yếu. Nhưng đây lại là vị trí rất quan trọng của địch trên tuyến Cao Bằng - Lạng Sơn. Mất Đông Khê buộc địch phải cho quân đi ứng cứu, ta có cơ hội tiêu diệt chúng trong vận động".
Để động viên, cổ vũ tinh thần quyết tâm “ đánh thắng trận đầu” trận đánh cứ điểm Đông Khê, sáng ngày 16/9/1950 Đại tướng Võ Nguyên giáp đã gửi điện đến toàn thể cán bộ chiến sĩ tham gia trận đánh cứ điểm Đông Khê.
“ ĐẠI TƯỚNG TỔNG TƯ LỆNH
Gửi
Các cấp chỉ huy
Toàn thể các chiến sỹ vệ quốc quân
Bộ đội địa phương
Dân quân du kích
Theo mệnh lệnh của Hồ Chủ tịch, chiến dịch Cao - Bắc - Lạng đã bắt đầu
Chiến dịch này là chiến dịch quy mô lớn của chúng ta.
Chúng ta thắng trận này không những tiêu diệt được sinh lực địch, mở được đường giao thông mở rộng căn cứ địa mà còn làm cho sĩ khí của địch giảm sút, phá tan âm mưu thu đông của chúng, tạo điều kiện mở cục diện mới ở Bắc Bộ, gây tinh thần hưng phấn cho quân dân toàn quốc.
…Muốn thắng trận này chúng ta cần phải đánh mấy trận liền, vì vậy từ cán bộ đến mỗi đội viên đều phải nỗ lực đến cùng, không quản khó khăn, mệt nhọc, chuẩn bị tinh thần đầy đủ để chiến đấu liên tục…
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên tiếng kêu gọi chúng ta thi đua giết giặc lập công.
Toàn thể các chiến sỹ hãy tiến mạnh lên tiền tuyến, đáp lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, kế tục truyền thống Bắc Sơn, Cao Bằng, của chiến khu Cao - Bắc - Lạng.
Chúng ta tin tưởng mãnh liệt
Chúng ta nhất định thắng
Chúng ta quyết thắng
Ngày 16 tháng 9 năm 1950
Tổng tư lệnh Q.Đ.Q.G và D.Q.VN
Đại tướng: Võ Nguyên Giáp”
Lực lượng chủ công đánh cứ điểm Đông Khê gồm Trung đoàn 174 và trung đoàn 209. Chỉ huy trưởng mặt trận Đông Khê do Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm chỉ huy trưởng.
Sau khi đã hoàn thành mọi công tác chuẩn bị 6h sáng ngày 16/9/1950 pháo binh của ta đồng loạt tấn công cứ điểm Đông Khê, mở màn cho chiến dịch Biên giới.
Tại sở chỉ huy chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp lên đỉnh núi “ Báo Đông”, đài quan sát của Sở chỉ huy chiến dịch Biên giới 1950 quan sát và chỉ đạo trận đánh cứ điểm Đông Khê tại đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm bài thơ.
“ Chống gậy lên non xem trận địa,
Vạn trùng núi đơn vạn trùng mây
Quân ta khí mạnh nuốt ngưu đẩu
Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy
16/9/1950
HỒ CHÍ MINH”
Sau trận pháo kích, bộ đội ta từ nhiều hướng tấn công cứ điểm Đông Khê.
+ Hướng Đông Bắc, Trung đoàn 174 mở cuộc tấn công vào các vị trí tiền tiêu ngoại vị. 9 giờ sáng quân ta chiếm đồn Yên Ngựa, 10 giờ 30 chiếm đồn Phia Khóa ( nằm ở phía đông đồn to).
+ Hướng tây – nam, trung đoàn 209 triển khai trận địa chậm đến 18 giờ mới nổ súng tấn công.
21 giờ quân ta chiếm đồn Pò Đình và tấn công Đồn Pò Hẩu
- Ngày 17/9/1950
+ Sáng trung đoàn 174 tiếp tục tấn công chiếm đồn Cạm Phầy, Trung đoàn 209 chiếm nha Phủ Thiện
+ Trưa ngày 17/9 ta bắn rơi 01 máy bay quần đảo trên bầu trời yểm trợ cho đồn Đông Khê.
+ 18 giờ 30’ ngày 17/ 9 chỉ huy trưởng Hoàng Văn Thái ra mệnh lệnh các hướng tổng tấn công đồn Đông Khê và Đồn Nhà Thương ( hai đồn kiên cố nhất trong cụm cứ điểm Đông Khê)
Tiểu đoàn 251 từ hướng đông tiến công đồn Đông Khê, từ hướng bắc tiểu đoàn 249 đánh đồn Nhà thương ( đồn hướng bắc cứ điểm). Trận đánh kéo dài suốt đêm 17/9. Trong trận chiến đấu đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm hy sinh trong trận đánh đồn Đông Khê.
Tiểu đội trưởng La Văn Cầu ôm bộc phá xông lên, bị thương ở cánh tay, nhờ đồng đội chặt đứt cánh tay bị thương cho khỏi vướng, tiếp tục ôm bộc phá xông lên công phá đồn địch.
(Tiểu sử tóm tắt)LA VĂN CẦULa Văn Cầu sinh năm 1932,dân tộc Tày,quê ở xã Phong Nậm,huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng.Sinh ra trong một gia đình nông dân nghè.Sớm được giác ngộ tinh thần cách mạng.Nhập ngũ năm 1948,được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1950.Ông đã tham gia chiến đấu nhiều trận đánh lớn.(Trận Bông Lau 1949,Trận Đông Khê(1950).Trong chiến dịch Biên giới thu đông tại cứ điểm Đông Khê . La Văn Cầu là tiểu đội phó thuộc Trung đoàn 174, Đại đoàn 316.Ông là lá cờ đầu trong phong trào thi đua yêu nước thời kì kháng chiến chống Pháp.Do thành tích trong chiến đấu.Năm 1950 được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba,Huân chương kháng chiến hạng nhất,Danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.) [1]
Đồng chí Lý Viết Mưu bị thương nhưng vẫn dũng cảm ôm bộc phá phá tan lô cốt của địch và dũng cảm hy sinh.
(Tiểu sử đồng chí: Lý Văn Mưu sinh năm 1934, dân tộc Tày, quê ở xã Độc Lập, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng, nhập ngũ tháng 3 năm 1950. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ bộ binh, đại đội 675, tiểu đoàn 251, trung đoàn 174, đại đoàn 316.Năm 1947, giặc chiếm Cao Bằng, Lạng Sơn, mới 13 tuổi đồng chí đã tham gia công tác ở địa phương phục vụ kháng chiến. Năm 16 tuổi (tháng 3 năm 1950) đồng chí xung phong tòng quân giết giặc. Ngày 7 tháng 5 năm 1956, đồng chí Lý Văn Mưu được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) [2]
Đại đội trưởng Trần Cừ lấy thân mình lấp lỗ châu mai chặn làn đạn của địch, tạo điều kiện cho đồng đội xông lên tiêu diệt địch.(Trần Cừ sinh năm 1920, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Bắc, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú,năm 1955, Trần Cừ được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.)[3]
Và còn rất nhiều tấm gương dũng cảm của các nữ dân công: chị Đinh Thị Dậu dân công huyện Thạch An, Triệu Thị Soi quê ở Trùng Khánh nhiều lần dũng cảm vượt qua lửa đạn tiếp tế đạn cho bộ đội và cõng thương binh về hậu cứ cứu chữa, cô Đinh Thị Bỏng chỉ huy 38 chị em dân công huyện Thạch An suốt ngày đêm tải đạn, tải lương phục vụ trận đánh…
Trận đánh đồn Đông Khê kéo dài suốt đêm 17/9 đến 4 giờ sáng ngày 18/9 quân ta đã thọc sâu chiếm Sở chỉ huy cứ điểm tại đồn Đông Khê. 10 giờ ngày 18/9/1950 Trung đoàn 174 và trung đoàn 209 hoàn toàn làm chủ phố Đông Khê, cứ điểm Đông Khê hoàn toàn bị tiêu diệt. Kết quả trận đánh:
“Kết quả trận đánh cứ điểm Đông Khê
Sau 54 giờ chiến đấu ta tiêu diệt và bắt sống:
+ 300 tên địch( trong đó có tên quan ba Alioux – đồn trưởng)
+ Bắn rơi 1 máy bay
+ Thu toàn bộ vũ khí, đạn dược, lương thực.”
Trận đánh cứ điểm Đông Khê giành thắng lợi đã chặt đứt một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ của địch trên đường số 4, phá vỡ sự liên kết giữa phân khu Cao Bằng và phân khu Thất Khê của địch. Trận đánh cứ điểm Đông Khê là trận đánh công kiên đầu tiên áp dụng thành công chiến thuật công kiên cấp trung đoàn, có sự hiệp đồng giữa các binh chủng, tập trung tiêu diệt một cứ điểm lớn của địch phòng ngự kiên cố, hỏa lực mạnh. Đây là trận đánh tiêu biểu mang cấp chiến dịch của quân đội nhân dân Việt Nam. Sau chiến thắng Đông Khê, số tù binh Pháp bị bắt trong trận đánh cứ điểm Đông Khê bị áp giải đến giam giữ tại khu đồn cũ của Pháp tại làng Nà Lạn (nay thuộc xóm Bản Mới, xã Đức Long, huyện Thạch An).
Gặp tù binh Pháp người khẳng định: "Các anh là những kẻ thực dân, Nhân dân Việt Nam chống đế quốc Pháp xâm lược bảo vệ tổ quốc mình, cũng như nhân dân Pháp chống phát xít Đức trước đây. Bây giờ các anh bị bắt làm tù binh, các anh phải tuân theo những quy định của trại. Sau này các anh có thái độ tốt tôi sẽ nghiên cứu cho các anh hồi hương. Các anh có ý kiến gì thì gửi lên tôi theo địa chỉ: Nguyễn Thắng – Cố vấn Chính trị mặt trận".
Sau đó Bác hỏi thăm sức khỏe của các tù binh bị thương, căn dặn các chiến sĩ coi trại tù chăm sóc tốt cho thương binh đang bị giam giữ. Tại đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cởi áo khoác của mình khoác cho một sĩ quan Pháp bị thương nặng.
Sau buổi gặp với Chủ tịch Hồ Chí Minh, một sĩ quan tù binh viết thư về cho vợ, trong thư có đoạn viết: “ Ôi! Kẻ địch của chúng ta có tâm hồn của một kẻ chiến thắng”. Thật vậy, với tâm hồn của người chiến thắng, với tấm lòng khoan dung, nhân đạo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảm hóa được kẻ địch.
* Trận đánh phục kích Binh đoàn Lơ Pa Giơ
Sau khi tiêu diệt cứ điểm Đông Khê, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ chỉ huy chiến dịch Biên giới nhận định: Địch có thể tái chiếm Đông Khê đánh lên đón binh đoàn Sác Tông rút từ Cao Bằng. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định thực hiện phương án diện viện “ nhử thú giữ vào tròng để khép vòng lưới thép”
Đại đoàn 308 được phân công phục binh tại khu vực Khau Luông, Nà Pá xã Đức Xuân, huyện Thạch An đón đánh quân Thất Khê kéo lên. Bộ đội triển khai đào công sự phòng ngự chặn đánh địch tại Khau Luông, Nà Kéo, Nà Pá cách phố Đông Khê về phía nam khoảng 6km.
Đêm 1/10/1950 Binh đoàn Bay A do Trung tá Lơpagiơ chỉ huy kéo quân từ Thất Khê lên nhằm tái chiếm lại Đông Khê và họp quân với Binh đoàn Sác Tông rút về từ Cao Bằng.
Trận chiến tại Khau Luông, Nà Pá diễn ra từ ngày mùng 2/10/1950 đến rạng sáng ngày 4/10 binh đoàn Lơ- pa- giơ bị chặn đánh thiệt hại nghiêm trọng buộc địch luồn rừng sang phía tây đường số 4 chạy về phía Cốc Xả xã Trọng Con chờ hợp quân với binh đoàn Sác Tông rút về từ Cao Bằng.
Ngày 3/10/ 1950 Thị xã Cao Bằng được giải phóng.
Trận đánh phục kích chặn viện binh địch tại Khau Luông giành thắng lợi ta đã tiêu diệt được một phần lực lượng của binh đoàn Lơ pa Giơ, khống chế một vùng rộng lớn trên đường số 4.
Đây là một trong những vận động quy mô lớn đầu tiên của quân đội ta. Thắng lợi của trận Khau Luông đã đập tan kế hoạch hành quân “ Ti Nít” của địch nhằm tái chiến Đông Khê và hợp quân với binh đoàn Lơ Pa Giơ rút về từ Cao Bằng.
( Sơ đồ diễn biến trận đánh tiêu diệt binh đoàn Lơ - pa- giơ và Sác tông tại Cốc Xá, điểm cao 477...)
* Trận đánh tại Cốc Xá
Bị chặn đánh tại Khau Luông, buộc Binh đoàn Lơ Pa Giơ phải cắt rừng chạy về hướng Cốc Xá xã Quang Liệt nay là xã Trọng Con, huyện Thạch An chờ hợp quân với binh đoàn Lơ Pa Giơ rút về từ Cao Bằng ngày 3/10/1950. Trước tình hình như vậy, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định điều lực lượng bao vây binh đoàn Lơ Pa Giơ tại Cốc Xả.
+ Diễn biến trận đánh Cốc Xả
- Trưa ngày 5/10 quân ta tấn công hướng chủ yếu vào khu B Cốc Xả
- Sáng ngày 06/10 quân ta hình thành thế bao vây binh đoàn Lơ pa Giơ tại Cốc Xả cả 3 hướng: Bắc, Đông, Tây nam cuộc bao vây, chia cắt, tấn công đội hình quân địch diễn ra liên tục trong các ngày 6,7.
- Đến ngày 08/10/1950 toàn bộ binh đoàn Lơ pa Giơ bị xóa sổ, Lơ Pa Giơ và ban tham mưu đoàn bị bắt làm tù binh.
Khi bị bắt Lơ pa Giơ đã thú nhận: “ Từ ngày tôi cầm quân Ta Bo chưa bao giờ bị thua, quân Ta Bo đã thắng ở Bắc Phi, trong cuộc giải phóng nước Pháp tiêu diệt 2 sư đoàn Đức. Sang Đông Dương quân Ta Bo chưa bị giết người nào, thế mà trong trận này chúng tôi bị đánh tan và chết… đây là tai họa đầu tiên trong đời tôi, tôi lấy làm nhục lắm” và chua chát nhận xét rằng “ Ta Bo chỉ giỏi khi không có Việt Minh”.
(Giải thích lính Tabor – tên gọi một loại bộ binh nhẹ người Ma-rốc thuộc đạo quân châu Phi. lính ta-bo, sang Đông Dương chiến đấu theo hợp đồng ( lính đánh thuê), Do nguồn gốc xuất thân, lính ta-bo chiến đấu rất giỏi ở địa hình rừng núi. Có người căn cứ vào đặc điểm này để gọi chúng là lính sơn cước Ma-rốc)
* Trận đánh điểm cao 477
Điểm cao 477 thuộc xã Trọng Con nằm phía Tây bắc Cốc Xả, trong dãy núi Quang liệt kéo dài từ Nặm Nàng, xã Kim Đồng đến Bản Ca xã Trọng Con, cách Đông Khê về phía bắc khoảng 8km, cách đường số 4 về phía đông khoảng 6km.
Phía nam điểm cao 477 có các điểm cao 500, 533, 263 Phía tây là suối Khuổi Cao, phía đông là các dãy đồi cỏ tranh.
- O giờ ngày 03/10/1950 Binh đoàn Sác-tông gồm 03 tiểu đoàn rút khỏi pháo đài Thị xã Cao Bằng theo đường số 4 về hướng Đông Khê. Đến Nặm Nàng xã Kim Đồng, huyện Thạch An cách Thị xã Cao Bằng khoảng 20km thì được lệnh vút bỏ xe cộ, vũ khí hạng nặng hành quân bộ theo dãy núi Quang Liệt hướng về Cốc Xả, chiếm điểm cao 477 để chờ cơ hội hợp binh với binh đoàn Le Pa-giơ cùng rút về Thất Khê.
- Chiều 06/10/1950 mặc dù bị trung đoàn 209 chặn đánh quyết liệt và tiêu diệt gần một tiểu đoàn. Binh đoàn Sác-tông cũng đến được phía Bắc điểm cao 477 như dự định.
Trước diễn biến mới của thế trận, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định: Nếu để binh đoàn Charton chuyển được đội hình vào tầm chi viện, yểm trợ của pháo binh địch tại các trận địa ở Bông Lau, Thất Khê thì ta sẽ gặp khó khăn và ra mệnh lệnh cho tiểu đoàn 18 cơ động lên chiếm lĩnh khu đồi phía Bắc, điểm cao 500 nhằm ngăn chặn và đón đánh binh đoàn Sác-tông ở điểm cao 477 không cho chúng chạy về Cốc Xả hợp quân với binh đoàn Le Pa-giơ.
- Sáng ngày 07/10 ta bao vây và chặn đánh địch tại khu vực xung quanh điểm cao 477. Địch tổ chức quân giữ hai bên sườn của điểm cao 477, tập trung lực lượng mạnh phản kích ra hướng đồi tranh ở phía bắc nhằm phá vây mở đường tiến về Bản Ca nhưng đều bị quân ta đánh bật trở lại.
- 11 giờ, ngày 07/10 ta tập trung lực lượng mạnh tấn công địch ở phía Tây và Tây Bắc điểm cao 477. Trước sức tấn công mạnh mẽ của quân ta, Sác-tông nhận thấy nguy cơ bị tiêu diệt đã để một phần lực lượng chống đỡ các mũi tấn công của ta ở phía Tây và Tây Bắc điểm cao 477. Một hướng tổ chức tấn công tiếp về phía đồi tranh, một hướng phân tán xuống các khe suối, chân núi trên đường đến Bản Ca.
Khi quân ta tấn công đến điểm cao 477 phần lớn quân địch đã tháo chạy, chỉ còn một bộ phận nhỏ chống cự yếu ớt. Trận đánh điểm cao 477 giành thắng lợi.
Sau 5 ngày đêm tấn công liên tục, từ ngày 05/10 đến 08/10/1950 trận Cốc Xả và điểm cao 477 đã kết thúc thắng lợi. Ta xóa sổ hai binh đoàn địch, gồm 6 tiểu đoàn Âu- Phi, 01 tiểu đoàn Ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu hơn tên địch, loại khỏi vòng chiến đấu lực lượng cơ động mạnh của thực dân Pháp trên chiến trường Đông Dương. Đây là hai trận đánh then chốt tiêu biểu mang cấp chiến dịch đầu tiên của quân đội Nhân dân Việt Nam. Thắng lợi này mang tính quyết định cho chiến thắng chiến dịch Biên giới 1950.
(Ảnh tù binh pháp) Sác-tông và Ban tham mưu binh đoàn và tàn quân bị ta bắt làm tù binh. Charton than rằng “ Tôi rất tiếc trong trận này, tôi bị thiệt hại mất tiểu đoàn số 3 là tiểu đoàn tinh nhuệ nhất của tôi trong trung đoàn lê dương số 3..”
Sau khi binh đoàn Le Pa-giơ và Sác-tông bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh, quân địch ở Thất Khê hoang mang dao động và tháo chạy, chớp thời cơ bộ đội ta truy kích địch, giải phóng Na Sầm (Lạng Sơn) hoảng sợ trước thất bại nặng nề, địch lần lượt tháo chạy khỏi Đồng Đăng, Lộc Bình, An Châu, Đình Lập (Lạng Sơn).
Sau chiến thắng Biên giới, ngày 14/10/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Cao - Bắc - Lạng nhân dịp chiến thắng trên chiến trường Biên giới:
“ Cùng đồng bào Cao – Bắc – Lạng
Hỡi đồng bào thân mến!
Chúng ta đã thắng to trong chiến dịch Cao – Bắc – Lạng
Có một thắng lợi đó là:
Vì đồng bào ba tỉnh ta rất hăng hái tham gia kháng chiến, vì bộ đội ta rất dũng cảm; Vì chính phủ ta rất kiên quyết; vì Quân, Dân, Chính của ta đoàn kết chặt chẽ
Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn và khen ngợi đồng bào
Tôi đặc biệt nêu cao công lao của phụ nữ Cao – Bắc- Lạng. Hàng vạn chị em Kinh, Thổ, Trại, Nùng, Mán… đã không quản xa xôi mệt nhọc, trèo non lội suối, ăn gió nằm sương, thi đua làm việc, sửa đường, vận tải, giúp đỡ bộ đội để góp một phần vào thắng lợi..
Chúng ta đã thắng lợi trong chiến dịch này, song chúng ta phải biết rằng: để tiêu diệt hết giặc Pháp, để chống bọn can thiệp Mỹ, để giải phóng hoàn toàn tổ quốc, chúng ta còn phải kinh qua nhiều khó khăn cực khổ nữa, chúng ta chớ vì thắng mà chủ quan khinh địch.
Nhưng với sức mạnh đoàn kết, tinh thần hăng hái, bền bỉ của đồng bào, với sự dũng cảm của bộ đội, với lòng kiên quyết của Chính phủ chúng ta nhất định vượt qua tất cả mọi khó khăn để tranh lấy hoàn toàn thắng lợi.
Đồng bào Cao – Bắc – Lạng đã làm kiểu mẫu cho việc động viên nhân lực, vật lực, tài lực cho kháng chiến. Tôi chắc rằng đồng bào ba tỉnh sẽ luôn luôn cố gắng để giữ lấy địa vị vẻ vang ấy mãi
Tôi chắc chắn rằng đồng bào các nơi khác sẽ ra sức thi đua với đồng bào Cao – Bắc - Lạng trong công việc thi hành lệnh tổng động viên
Cho nên Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi. Thống nhất độc lập nhất định thành công.”
Những hình ảnh nhân dân và bộ đội trong ngày vui chiến thắng.
Sau chiến thắng Bác bảo anh Văn tổ chức cho Bác đi thăm đồng bào, bộ đội mới được giải phóng ở Đông Khê, Thất Khê, Cao Bằng. Từng đoàn bộ đội, dân công cùng đồng bào trước đây đi tản cư, nay gồng gánh trở về đông vui như đi hội. Tiếng cười, tiếng hát, tiếng chào hỏi xen lẫn tiếng hô vang khắp nơi: “Việt Nam độc lập muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!”…
Chiến dịch kết thúc, Bộ chỉ huy triệu tập hội nghị tổng kết tại hang Ngườm Bốc xã Hồng Việt, huyện Hoà An. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trong công tác tổng kết Người đã đến dự và chỉ đạo Hội nghị. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị Người lưu ý một số vấn đề cần tổng kết như: Đề cao kỷ luật; triệt để thi hành mệnh lệnh cấp trên; thương yêu đồng đội; tôn trọng nhân dân; giữ gìn của công, chiến lợi phẩm; và Người đã chỉ rõ chiến dịch này có nhiều kinh nghiệm, tốt xấu đều có cần phải tổng kết, phổ biến học tập…
Sau 29 ngày đêm chiến đấu liên tục từ ngày 16/9/1950 đến 14/10/1950 chiến dịch Biên giới 1950 kết thúc thắng lợi. Ta đã đánh và tiêu diệt gồm 10 tiểu đoàn địch, bằng 41% lực lượng cơ động chiến lược Pháp trên toàn cõi Đông Dương, loại khỏi vòng chiến đấu 8.296 tên bắt toàn bộ ban chỉ huy binh đoàn Le Pa-giơ và Sác-tông và ban chỉ huy cứ điểm Đông Khê, thu 3.000 tấn vũ khí, giải phóng hoàn toàn biên giới từ Cao Bằng đến Đình Lập (Lạng Sơn).
Chiến dịch Biên giới 1950 là chiến dịch có tầm quy mô lớn đầu tiên của quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, là chiến dịch có tầm quan trọng đặc biệt do sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ quốc Phòng, Tổng Tư lệnh quân đội Quốc gia và dân quân Việt Nam trực tiếp làm Bí thư Đảng ủy mặt trận, chỉ huy trưởng chiến dịch. Chiến dịch có ý nghĩa chiến lược trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam. Chiến thắng chiến dịch đã nhằm đưa cuộc kháng chiến của ta chuyển sang một giai đoạn mới – giai đoạn giành, giữ và phát huy quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ. Thắng lợi của chiến dịch Biên giới đã đạt được mục đích của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra. Thất bại của Thực dân Pháp trong chiến dịch Biên giới 1950 đã làm phá sản âm mưu “khóa chặt Biên giới” nhằm cô lập cách mạng Việt Nam với Liên Xô, Trung Quốc và các nước Dân chủ Nhân dân. Tuyến phòng thủ “Liên khu Biên giới Đông Bắc” bị phá sản “Hành lang Đông – Tây” bị chọc thủng, kế hoạch Rơ-ve bị đập tan. Nhìn nhận sự thất bại của Thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương, nguyên toàn quyền Đông Dương Cattơru đã chua chát xác nhận: "Thất bại của quân đội Pháp tại Biên giới Việt- Trung tháng 10/1950 đã có ảnh hưởng quyết định đến số phận Đông Dương và Điện Biên Phủ sau này đã chịu ảnh hưởng đó”.
Thắng lợi trong chiến dịch Biên giới 1950 khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt những ý kiến chỉ đạo, sự kiểm tra cụ thể sát sao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác chuẩn bị cho chiến dịch, sự nhận định, đánh giá tình hình một cách khoa học, khách quan thể hiện nhãn quan quân sự xuất sắc, sự chỉ đạo quân sự thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến dịch Biên giới. Đây cũng là lần đầu tiên và duy nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp ra mặt trận chỉ đạo chiến dịch, động viên quân và dân chiến đấu. (Chúng ta hãy cùng xem lại hành trình Bác đi chiến dịch Biên giới qua sơ đồ)
Sáng 05/9/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh rời căn cứ địa Việt Bắc lên đường đi chiến dịch. Trên chuyến hành trình ra mặt trận, Chủ tịch Hồ Chí Minh và đoàn công tác chủ yếu đi bộ, đoàn đã hành trình qua các địa phương:
Sáng ngày 5/9/1950 đoàn xuất phát từ Thác Rẫng, thôn Lập Binh, xã Lương Thiện, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang qua chợ Chu (Bắc Kạn) tới đến Chợ Mới (Bắc Kạn) và ngủ tại Chợ Mới. Sáng 06/9/1950 theo đường quốc lộ 3 đi bộ đến bến phà thị xã Bắc Kạn và ngủ tại bến phà Bắc Cạn. Sáng 07/9 Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc với đồng chí Nông Quốc Chấn - Bí thư Tỉnh ủy Bắc Kạn, sau đó đi tiếp gần đến thị xã Bắc Kạn nghỉ nấu cơm và tạt vào rừng chờ đến tối. Chiều tối 07/9 đoàn đi ô tô do Bộ quốc phòng chuẩn bị từ Bắc Kạn đi suốt đêm tới sáng 08/9 đến đỉnh đèo Phia Đén thuộc huyện Nguyên Bình, Cao Bằng và nghỉ cả ngày tại đỉnh đèo Phia Đén, Nguyên Bình. Tối 08/9 xe ô tô đưa đoàn đi qua thị trấn Nguyên Bình, huyện Nguyên Bình đến Tà Sa (nơi có nhà máy thủy điện Tà Sa thuộc xã Bắc Hợp, huyện Nguyên Bình). Xe ô tô quay trở về Bắc Kạn, đoàn công tác nghỉ đêm tại Tà Sa. Sáng 09/9/1950 Đoàn tiếp tục đi bộ từ Tà Sa đến Lam Sơn, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, Cao Bằng. Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc với Tỉnh ủy Cao Bằng.
Sáng 10/9/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ cơ quan tỉnh ủy Cao Bằng tiếp tục hành trình đến Sở chỉ huy chiến dịch Biên giới đóng tại nhà ông Lã Văn Ho, xã Quốc Phong, huyện Quảng Uyên. Người đã ở và làm việc tại nhà ông Lã Văn Ho từ ngày 10 đến hết ngày 12/9/1950.
Chiều 10/9/1950 tại Sở chỉ huy chiến dịch Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghe các cơ quan tham mưu báo cáo tình hình công tác chuẩn bị cho chiến dịch, đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Đảng ủy, Bộ chỉ huy chiến dịch báo cáo phương án tác chiến.
Ngày 11/9/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Hội nghị cán bộ chỉ huy từ cấp trung đoàn trở lên để nghe phổ biến kế hoạch tác chiến chiến dịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh phê chuẩn quyết tâm của Bộ chỉ huy chiến dịch, thực hiện phương án tác chiến.
Ngày 13/9/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ chỉ huy chiến dịch chuyển cơ quan Sở chỉ huy từ xã Quốc Phong, huyện Quảng Uyên đến xã Đức Long, huyện Thạch An để trực tiếp chỉ đạo chiến dịch Biên giới 1950.
Ngày 14/9/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đến xã Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, nơi được Bộ chỉ huy chiến dịch làm nơi đặt Sở chỉ huy tiền phương trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Người đã chọn Hang Không Hẩu, làng Nà Lạn (nay là xóm Bản Mới) xã Đức Long, huyện Thạch An làm nơi ở và làm việc trong suốt thời gian chỉ đạo chiến dịch.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp ra mặt trận là nguồn sức mạnh động viên tinh thần vô cùng to lớn lan truyền đến toàn thể quân và dân ta, tiếp thêm sức mạnh cho toàn quân và dân ta quyết tâm giành thắng lợi trong chiến dịch.
IV. Đóng góp của nhân dân các dân tộc Cao Bằng trong chiến thắng chiến dịch Biên giới 1950.
Chiến dịch Biên giới 1950, Cao Bằng được chọn làm chiến trường chính của chiến dịch, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Cao Bằng đã đoàn kết chặt chẽ đem hết sức người, sức của phục vụ chiến dịch với khẩu hiệu “Tất cả cho chiến dịch toàn thắng” nhân dân các dân tộc Cao Bằng đã thể hiện tinh thần yêu nước cao đẹp, ý chí quyết chiến quyết thắng đã góp phần to lớn làm nên Chiến thắng Chiến dịch Biên giới 1950
Cao Bằng đã huy động một lực lượng dân công lớn trong đó có hàng vạn người, thường xuyên bám bộ đội để vận chuyển lương thực, đạn dược, cáng tải thương... Chỉ trong một thời gian ngắn Từ ngày 20-7 đến ngày 30-10-1950 đã có 78.224 người đi dân công chiến dịch .Cả tỉnh đóng góp được 325.650 đồng, 1383 kg gạo, 30.910 kg thóc, 17.915 mét vải ủng hộ cho bộ đội. Chị em phụ nữ Cao Bằng đã đóng góp 50.000 đồng cho quỹ kháng chiến. Đặc biệt phong trào "bán gạo cho Hồ Chủ tịch khao quân” đã có 27.134 gia đình (trong trong tổng số 30.703 hộ gia đình trong toàn tỉnh) bán 713.641 kg gạo, ủng hộ bộ đội.
Ở thời kỳ này để đảm bảo cho việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, phụ nữ Cao Bằng không quản ngại khó khăn vất vả đã nhận đỡ đầu và úy lạo thương binh bằng hình thức nhận thương binh làm con nuôi, em nuôi trong gia đình để chăm sóc (nhiều bà mẹ ở tận huyện Bảo Lạc nơi xa xôi hẻo lánh nhất của tỉnh cũng đã nhận 190 cán bộ, chiến sĩ làm con nuôi). Việc làm này biểu thị tình đoàn kết quân dân bền chặt, đã góp phần cổ vũ động viên bộ đội xông pha chiến đấu ngoài mặt trận. Các cụ già, các cháu thiếu niên nhiều địa phương còn tổ chức thăm hỏi thương binh như thiếu niên xã Tiên Thành (Phục Hòa) đã bán củi; thiếu niên xã Cô Ngân (Hạ Lang) dành tiền; bà Giao ở thị xã mù lòa cũng dành dụm số tiền ít ỏi để ủng hộ bộ đội.
Chưa bao giờ nhân dân các dân tộc Cao Bằng nô nức lên đường với tinh thần " tất cả hướng về chiến dịch" như thời kỳ này. Đồng bào dân tộc ít người ở vùng cao chưa từng xa nhà nay cũng tình nguyện xuống núi phục vụ chiến dịch. Đội dân công dân tộc Dao, xã Vũ Nông (Nguyên Bình) đã có sáng kiến cuộn từng đoạn dây cáp sắt của mỏ thiếc Tinh Túc, rồi khiêng theo đường núi chuyển đến Phục Hòa xa hàng trăm cây số, để công binh bắc cầu phao vượt Sông Bằng kịp cho bộ đội hành quân vào chiếm lĩnh trận địa. Chỉ trong một thời gian ngắn, ty Bưu điện tỉnh đã bắc thêm 70km đường dây điện thoại đảm bảo thông tin liên lạc.
Dân công Cao Bằng còn tham gia bạt núi mở đường, bắc cầu, vận chyển vũ khí đạn dược, lương thực, thực phẩm, với biết bao gian truân vất vả. Xe đạp, xe trâu, ngựa thồ đều được huy động. Thiếu ngựa, thiếu xe thì dùng sức người để mang vác. Từng đoàn người tấp nập hướng về mặt trận.
Trong quá trình chiến đấu đã xuất hiện nhiều gương chiến đấu anh dũng làm rạng rỡ quê hương cách mạng Cao Bằng ( các hình ảnh) như anh hùng La Văn Cầu lập công là lá cờ đầu trong quân đội. Anh Lý Viết Mưu anh dũng hy sinh khi tấn công đồn địch được truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trên 50% dân công là phụ nữ trực tiếp ra chiến trường vượt qua khói bom, lửa đạn tiếp tế đạn dược, vận chuyển lương thực, khiêng cáng thương binh, nhiều chị em phụ nữ đã được Bác Hồ tuyên dương, Chính phủ tặng huân chương chiến công như chị: Đinh Thị Dậu, Triệu Thị Soi, Nguyễn Thị Bé, Nông Thị Đông...
VI. Bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến thắng Chiến dịch Biên giới 1950.
Với giá trị và ý nghĩa lịch sử to lớn, di tích địa điểm chiến thắng Biên giới 1950 huyện thạch an, tỉnh Cao Bằng đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định số 2082/qđ-ttg ngày 25/12/2017 của thủ tướng chính phủ.
Với truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, với tấm lòng thành kính và biết ơn hạn lãnh tụ Hồ Chí Minh kính yêu, lòng biết ơn nhân dân các dân tộc Việt Bắc và những cán bộ chiến sĩ đã tham gia chiến dịch, thể theo nguyện vọng của nhân dân cả nước, đặc biệt là nhân dân các dân tộc Cao - Bắc - Lạng; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã giao nhiệm vụ cho quân khu II chủ trì xây dựng dự án bảo tồn tôn tạo, phát huy giá trị khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến thắng chiến dịch Biên giới 1950 với nhiều hạng mục. Trong đó có cụm tượng " Chủ tịch Hồ Chí Minh quan sát và chỉ đạo trận đánh cứ điểm Đông Khê" ngày 16 tháng 9 năm 1950 trên đỉnh núi Báo Đông, thôn Nà Lạn, xã Đức Long, huyện Thạch An. Trên đỉnh núi Báo Đông đã xây dựng một cụm tượng mô phỏng theo bức ảnh của Nghệ sỹ Vũ Năng An chụp, được làm bằng vật liệu compozit giả đồng, cao 2,8m, nặng 418 kg, cụm tượng gồm Chủ tịch Hồ Chí Minh và 6 đồng chí: Đồng chí Minh – người cầm điện thoại (là học viên khóa V, Trường Sỹ quan Lục quân); đồng chí Phạm Chước (Phạm Bá Kiên) – Trưởng đài quan sát (là người đang cầm ống nhòm); đồng chí Võ Viết Định (Chu Phương Vươngquê Cao Bình, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An), đội trưởng đội cận vệ Bác Hồ (người bên cạnh); phía sau Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi là 3 đồng chí chiến sỹ đài quan sát.
Một nội dung đặc biệt được trưng bày tại đây đó là nội dung bút tích của Đại tướng Võ Nguyên Giáp Thân gửi nhân dân các dân tộc Cao Bằng, ngày 14 tháng 5 năm 2004. nhân dịp Đại tướng nhận được thư mời của Bộ tư lệnh Quân khu II, Tổng công ty xi măng Việt Nam, Tỉnh ủy và Ủy Ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng về dự lễ khánh thành Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến thắng Chiến dịch Biên giới 1950. Bức thư có đoạn viết " Tôi mong rằng Nhân tỉnh Cao Bằng, tỉnh Lạng Sơn và toàn khu giải phóng Việt Bắc, các chiến sĩ cán bộ quân đội...Ghi nhớ sâu sắc và noi theo tấm gương sáng của Bác, luôn đi sát nhân dân, đi sát quân đội, phát huy truyền thống một lòng vì nước vì dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ do Đảng và Chính phủ giao phó trong sự ngiệp đổi mới". Chúng ta nguyện tiếp tục phấn đấu thực hiện thành công mong muốn của Bác Hồ và Bác Giáp kính yêu./.



