Bài viết

Nhà văn Anh hùng Trần Tiến - Chu Cẩm Phong

Đà Nẵng16/04/2026Phường Hội An (Phường Hội An)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc, các nhà văn hi sinh ngoài mặt trận là một danh sách dài: Từ Trần Đăng, được coi là người văn nghệ binh thứ nhất đổ máu ở chiến trường, Trần Mai Ninh, Thúc Tề, Thâm Tâm, Thôi Hữu, Hoàng Lộc, Nam Cao, Nguyễn Đình Lạp đến Lê Vĩnh Hòa, Dương Tử Giang, Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân, Nguyễn Hồng Tân, Nguyễn Mỹ, Nguyễn Trọng Định, Nguyễn Hồng, Dương Thị Xuân Quí, Bùi Nguyên Khiết, Mộng Lục…

Riêng tấm bia ghi tên các liệt sĩ Văn nghệ của Liên khu V ở bảo tàng Đà Nẵng có tên gần một trăm người.

Trong đội ngũ đông đảo những tên tuổi nổi tiếng ấy, Chu Cẩm Phong, người đầu tiên được Tuyên dương Anh hùng là có lý do chính đáng.

*

Trần Tiến sinh ngày 12/8/1941 tại Hội An - Quảng Nam. Năm 1954, anh theo cha là bộ đội tập kết ra Bắc. Học hết phổ thông ở trường học sinh Miền Nam số 24 ở Hải Phòng, anh được tuyển thẳng vào khoa Ngữ văn Khóa 5 Đại học Tổng hợp Hà Nội. Đó là một chàng trai có nước da sáng trắng, gương mặt tươi, đôi mắt tinh anh, tính tình hiền lành và rất chăm đọc. Là Bí thư Chi đoàn của lớp, Cán bộ Đoàn của Trường, năng nổ và tháo vát, tháng 01/1963, mới là sinh viên năm thức ba, anh đã được kết nạp Đảng. Dạo đó, một bộ phận sinh viên là cán bộ kháng chiến, việc một học sinh phổ thông được kết nạp như thế là rất hiếm. Luận văn tốt nghiệp khóa ba năm của anh có đề tài là: Từ nhân vật Thúy Kiều của Thanh Tâm tài nhân đến Thúy Kiều của Nguyễn Du: sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ dân tộc được điểm xuất sắc.

Hơn 40 sinh viên khóa 5 tốt nghiệp, trường giữ lại 8 người học tiếp khóa 4 năm đầu tiên, chia làm hai, 4 văn và 4 ngôn ngữ.

Trần Tiến cùng Nguyễn Hồng Tân, Nguyễn Trung Thu (nhà thơ có bài Đêm Trường Sơn nhớ Bác được phổ nhạc) học tiếp về Văn.

Luận văn năm thứ tư là: Chủ nghĩa nhân đạo trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du.

Được đào tạo để trở thành một chuyên gia về văn học cổ điển, nhưng vừa ra trường, quê hương đã kêu gọi. Cùng Hồng Tân, Trần Tiến được dự lớp tập huấn thể lực để đi thẳng vào chiến trường ác liệt nhất: Khu Năm. Suốt 7 năm ở chiến trường với công việc người viết báo rồi viết văn với bút danh Chu Cẩm Phong - mà việc nào cũng phải mầy mò học hỏi từ đầu, anh đã tự khẳng định trong cuộc sống cũng như công tác và sáng tác, để trở thành một trong những cán bộ chủ chốt của bộ phận sáng tác trong Ban tuyên huấn Khu V.

Đặc biệt là trong chiến đấu, ở một chiến trường rất gian khổ và ác liệt, nhưng Liên khu V, ở bên dân sự cũng như quân sự rất chú ý phát hiện, bồi dưỡng, tổ chức, tạo điều kiện cho các cây bút trẻ sáng tác để có tác phẩm kịp thời động viên sĩ khí chiến đấu. Nếu phía Văn nghệ quân giải phóng có Nguyên Ngọc, Nguyễn Chí Trung, Thu Bồn, Thái Bá Lợi… thì Văn nghệ giải phóng có Phan Tứ, Vương Linh, Phan Huỳnh Điểu, Chu Cẩm Phong, Bùi Minh Quốc, Cao Duy Thảo, Dương Thị Xuân Quí, Thanh Quế…

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày nhà văn hi sinh, lúc mới 30 tuổi, Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản tập Nhật ký chiến tranh, ghi từ 11/7/1967 đến 27/4/1971, bốn ngày trước khi tác giả anh dũng hi sinh.

Dưới hình thức nhật ký, thật ra đây là tập ghi chép một cách có ý thức và rất có kỷ luật của một người chuẩn bị để tự đào tạo mình thành nhà văn. Nói có ý thức, vì thông thường nhật ký cá nhân là nơi bộc lộ tâm tư suy nghĩ, tình cảm của chính người ghi. Ở đây, bạn đọc lại được tiếp cận với toàn cảnh chiến trường với tất cả cái khốc liệt ghê gớm tới từ bom đạn kẻ thù, từ hoàn cảnh thiếu đói triền miên của mặt trận, từ biến động thất thường và dữ dội của thời tiết và thiên nhiên cả từ rừng núi đến đồng bằng, và cả bão táp, sóng gió trong lòng người thuộc về hai phía, mà ranh giới nhân sự không phải bao giờ cũng rạch ròi. Nói người ghi chép rất có kỷ luật, vì đọc nhật ký, ta biết tác giả cũng như đồng nghiệp và đồng đội thường xuyên sống trong một hoàn cảnh rất căng thẳng. Ở một vùng xen kẽ ta và địch, khi kẻ địch - quân Mỹ, Nam Hàn, lính ngụy và chính quyền cùng bộ máy đàn áp ngụy - có ưu thế áp đảo về bom đạn và phương tiện chiến tranh, khống chế và làm chủ bầu trời, cơ quan tìm một nơi trú nấp yên ổn là rất khó. Cho nên nói là làm báo, viết văn nhưng thời gian thực tế giành cho công việc này không nhiều. Chỗ ở thường xuyên thay đổi. Nơi nào cũng lo đào hầm, làm lán ở, nơi hội họp, rồi lo phát hoang, làm rẫy, tăng gia tự túc, mỗi năm có 4 tháng, lo phần ăn độn quanh năm. Ngay cả khi được cấp lương thực, thực phẩm cũng phải đi hàng tuần, vượt qua bao trận bom, sông sâu, suối lũ, đèo cao, núi dốc, mà không phải bao giờ cũng được nhận. Ngày đói, ốm đau, bệnh tật là thường xuyên. Thế mà vẫn đi phát rẫy, trỉa lúa, trồng sắn, gieo ngô… Đêm về mệt rã rời, tác giả vẫn ghi chép đều đặn và đầy đủ. Phải có một ý thức kỷ luật thép với bản thân mới làm được điều đó.

Và nhờ thế, qua 500 trang ghi chép còn lại, ta có một bức tranh khá độc đáo về hiện thực chiến tranh ở chiến trường đặc biệt, ở một địa bàn còn ít được các tác phẩm văn học nói đến.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn