Nhà văn Lê Lựu (1942–2022) - NNMT
Lê Thị Lựu (chữ Hán: 黎氏榴, 19 tháng 1 năm 1911 – 6 tháng 6 năm 1988) là một họa sĩ chuyên về tranh lụa và tranh sơn dầu người Việt Nam. Bà được xem là nữ họa sĩ đầu tiên của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam, nằm trong bộ tứ danh họa Việt tại Pháp Phổ – Thứ – Lựu – Đàm.
Sinh ra trong một gia đình theo Tây học, ngay từ cấp sơ học, Lê Thị Lựu đã hình thành niềm yêu thích với hội họa và quyết định thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Sau khi đỗ đầu trường khóa 3 năm 1927, bà sớm được biết đến thông qua hai bức sơn dầu vẽ Thiếu nhi trong vườn chuối và Chân dung Ông Hai vào năm 1929, được trưng bày trong triển lãm chung đầu tiên của trường. Các sáng tác chủ yếu của Lê Thị Lựu giai đoạn này là tranh sơn dầu, sở trường chân dung. Sau khi trở thành nữ sinh đầu tiên tốt nghiệp trường, hạng thủ khoa, bà nhanh chóng có được sự công nhận từ giới báo chí, đặc biệt là nhóm Tự Lực văn đoàn. Lê Thị Lựu từng nhận bổ nhiệm làm giáo sư tại nhiều trường học khác nhau trên khắp cả nước. Với tư cách là hướng đạo sinh, bà cũng sáng lập nên tổ chức "Bầy sói con Trứng Rồng". Năm 1940, nữ họa sĩ cùng chồng sang Pháp.
Dành phần lớn cuộc đời sống tại Pháp, Lê Thị Lựu đã gặp nhiều trở ngại trong cuộc sống gia đình và có lúc phải tạm ngưng vẽ tranh suốt nhiều năm, từ thập niên 1930 đến thập niên 1950, ngoại trừ một số bức được thực hiện vào những dịp đặc biệt khác nhau. Khoảng thời gian này, bà tích cực tham gia phong trào chống Pháp trong thời điểm hoạt động cách mạng diễn ra sôi động. Khi trở lại hội họa, Lê Thị Lựu chuyên tâm theo đuổi dòng tranh lụa và kiên trì với trường phái cổ điển, cho ra đời nhiều tác phẩm gây được sự chú ý từ các triển lãm, cửa hàng tranh bên Pháp: thời điểm đầu sáng tác, ba bức tranh lụa nhỏ của Lựu giúp đem về cho nữ họa sĩ giải nhất trong số các tranh và bà được công nhận là thành viên thực thụ của Hội liên hiệp phụ nữ hội họa và điêu khắc Pháp. Trong những năm cuối đời, Lê Thị Lựu đã hoàn thiện nhiều tác phẩm thành công để lại dấu ấn trong sự nghiệp của mình. Họa phẩm cuối cùng mà bà xong trước khi mất là bức Tam đại đồng đường.
Xuyên suốt sự nghiệp sáng tác, ước tính số lượng tranh Lê Thị Lựu vẽ chỉ dao động khoảng 250 đến 500 bức. Tuy nhiên các tác phẩm của bà, đặc biệt là tranh lụa, đã nhận về đánh giá cao từ những nhà phê bình chuyên môn và được đem đi bán đấu giá tại Christie's, Sotheby's... thu về số tiền kỷ lục. Vào năm 2018, nhà phê bình Thụy Khuê và chồng bà là Lê Tất Luyện – họ hàng của nữ họa sĩ – đã quyết định trao tặng Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh nhiều tranh vẽ, thư từ, thơ Lê Thị Lựu; đồng thời xuất bản cuốn sách Lê Thị Lựu, ấn tượng hoàng hôn, trong đó tổng hợp lại chi tiết cuộc đời nữ danh họa cùng cuộc sống của những họa sĩ người Việt tại Pháp từng tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương.
== Thời niên thiếu ==
Lê Thị Lựu sinh ngày 19 tháng 1 năm 1911, quê tại làng Thổ Khối, xã Cự Khối, huyện Gia Lâm, Phủ Thuận An, tỉnh Bắc Ninh. Đây là nơi sinh, cũng là quê nội và quê ngoại của bà. Cha mẹ Lê Thị Lựu đều đồng danh tên Quế: cha bà là Lê Văn Quế còn mẹ bà là Lê Thị Quế. Từ nhỏ đến năm 14 tuổi, bà đã theo cha, một công chức tòa sứ, đến nhiều tỉnh thành khác nhau gồm Bắc Ninh, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng và Hà Nội. Tuy là một trong những người theo Tây học đời đầu, nhưng ông Quế vẫn bắt các con mình phải để tóc dài, nhuộm răng đen, vận quần thâm cho đến khi lấy chồng. Bà là chị cả trong số bốn chị em Lê Thị Lựu, Lê Thị Cẩn, Lê Thị Chương và Lê Thị Đào, đặt theo tên của các loại thảo mộc: Lựu, Cẩn (cây bầu), Chương (cây long não), Đào. Bà cũng có em họ là giáo sư Nguyễn Đăng Thục, nhà văn Mai Thảo và nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh.
Vào năm 1925, bà đã đậu bằng Sơ học yếu lược, tuy nhiên thay vì nhập học trường Nữ sinh Đồng Khánh (tiền thân trường Trưng Vương) như hai người em khác, Lê Thị Lựu lại thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1926. Theo những bản viết tay của Lựu, khi đó có hai sự việc dẫn đến quyết định này: sự kiện thứ nhất là trong một lần Lê Thị Lựu xếp lại sách cho thầy giáo, bà bị ấn tượng với bức hình vẽ một cô gái Lào vừa to, vừa đẹp. Thầy sau đó giải thích với bà rằng đây là hình "phóng to" từ sách ra. Khi Lựu hỏi thầy mình liệu có thể học được môn này, ông đã giới thiệu một Trường Bách nghệ dạy vẽ và ở đó có ông nghệ sĩ tên Thục nặn giỏi. Việc thứ hai là khi thăm người bạn có cha là chủ một rạp hát, Lê Thị Lựu bị thuyết phục trước lối vẽ chấm phá làm phông cho rạp của một người thợ, bằng việc tô lên những nét sơn nguệch ngoạc trên tấm vải căng phẳng mà khi nhìn gần không nhận ra gì cả nhưng phải trông từ xa mới thấy đẹp.
Chuẩn bị trước khi thi, Lựu mua duy nhất cuốn vẽ luật viễn cận rồi tự học, đồng thời nhờ một anh người nhà tên Pheo làm mẫu để thực hành. Sau khi thi xong, bà đậu thứ 13 và ghi tên lớp dự bị vì trường chỉ lấy 10 người. Tuy vậy, chỉ một năm sau vào 1927, Lê Thị Lựu đã đỗ nhất đầu vào sinh viên khóa III trường Mỹ thuật Đông Dương – cùng với Trần Quang Trân đỗ nhì và Nguyễn Gia Trí – khi mới 16 tuổi. Bước vào trường lúc đó, bà đã gặp trở lực từ phía phụ huynh, xã hội và bạn học: là một trong số ít các họa sĩ nữ của trường, khi mới vào thực tập tại trường bà phải thuyết phục gia đình cho đi học lớp vẽ tranh khỏa thân nam với người mẫu thật; các học sinh nam cũng ghen ghét với thành tích học tập của bạn đến mức có người đã rạch chéo nách hoặc bôi xóa cả tranh bà vẽ. Bất chấp những điều này, suốt quãng thời gian 5 năm theo học bất cứ môn nào Lê Thị Lựu đều trội hơn các bạn đồng khóa. Bà cũng kết bạn với đàn anh trong trường, là các học sinh ưu tú nhất, gồm ba họa sĩ Mai Trung Thứ, Lê Phổ và Vũ Cao Đàm, bên cạnh đó là hiệu trưởng trường Tardieu. Năm 1932, Lê Thị Lựu trở thành nữ họa sĩ đầu tiên tốt nghiệp trường Mỹ thuật, hạng thủ khoa.
== Sự nghiệp ==
=== 1927–1940: Khởi đầu hội họa và sang Pháp ===
Năm 1929, khi Lê Thị Lựu còn đang học tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nhà trường đã lên kế hoạch tổ chức một cuộc triển lãm chung đầu tiên, trưng bày bài tập của các sinh viên sáng tác thời gian nghỉ hè và được yêu cầu phải trình công việc với giáo viên khi tựu trường. Dù vậy tới tận ngày khai giảng, Lựu mới chỉ hoàn thiện xong một bức sơn dầu mang tên Thiếu nhi trong vườn chuối. Một giờ trước khi ra ga về trường, bà ở nhà đã kịp nhờ ông bác mình làm mẫu chân dung rồi đem tranh thành phẩm còn ướt màu sơn lên xe, đặt tên là Chân dung Ông Hai. Bất ngờ khi nộp bài xong, đến hôm triển lãm vào ngày 15 tháng 11 cùng năm, chỉ sau vài phút thuyết trình về hai tác phẩm liền có hai người mua các tranh này với giá tổng là 400 đồng – gấp nhiều lần tiền thuê trọ của bà vỏn vẹn 3 đồng. Hai bức họa này đã nhận về sự khen ngợi từ thầy giáo bà Joseph Inguimberty và hiệu trưởng Victor Tardieu; Chân dung Ông Hai còn vô tình được thầy Inguimberty xếp ngang hàng tranh bậc đàn anh của bà thời điểm đó là họa sĩ Tô Ngọc Vân. Trong một bài báo tiếng Pháp tựa đề "Une nouvelle école de peinture et de sculture: "L'École annamite"" (dịch: "Một trường phái hội họa và điêu khắc mới: trường phái Annam") in trên báo L'Avenir du Tonkin, nữ ký giả Yvonne Schultz có nhận xét về hai họa phẩm như sau:
Sau cùng, là bức hoành hoàn toàn đáng chú ý của cô Lê Thị Lựu, năm thứ ba, vẽ trẻ em chung quanh cây chuối. Tôi cho rằng đó là bức tranh duy nhất cho ta thấy một đứa nhỏ bụng bự đầy cơm. Và đáng yêu thay người vẽ đứa bé lại là một thiếu nữ! Ta thấy trong bức tranh này một cảm xúc rất êm dịu của tuổi thơ. Bức họa thứ nhì vẽ chân dung Ông Bác, bút pháp ngang tàng làm liên tưởng tới Reynolds.
Năm 1931, bà cùng các họa sĩ khác trong trường, dẫn đầu là Lê Phổ, tham dự Triển lãm Thuộc địa tổ chức tại Paris. Các tác phẩm của nữ họa sĩ đã thành công gây ấn tượng với những nhà phê bình nghệ thuật người Pháp. Năm 1932, sau khi ra trường, tên tuổi Lê Thị Lựu nổi danh khắp ba kỳ, được nhiều tờ báo trong nước nhắc đến như là nữ sinh đầu tiên tốt nghiệp thủ khoa khóa III Cao đẳng Mỹ thuật. Tài năng của bà lúc này cũng sớm được nhóm Tự Lực văn đoàn phát hiện và công nhận. Trong bài "Trường Mỹ thuật Đông Pháp" do Nguyễn Tường Tam (bút danh Nhất Linh) viết, ông đã coi Lê Thị Lựu là một trong ba họa sĩ tài năng nhất về sơn dầu của trường Mỹ thuật Đông Dương, cùng với Lê Phổ và Nam Sơn. Tại một bài báo khác trên tờ Phong Hóa số 18, mà theo suy đoán thì tác giả là nhà văn Thạch Lam – người phụ trách thường xuyên mục phê bình nghệ thuật của tờ Phong Hóa và Ngày Nay – người viết cũng đề cập đến Lê Thị Lựu bên cạnh hai họa sĩ tốt nghiệp khóa I trường Lê Phổ và Mai Trung Thứ:
Ông Lê Phổ, cô Lê Thị Lựu, ông Mai Trung Thứ cùng nhiều họa sĩ khác đều là người có tài, mỗi người một vẻ riêng [...] Có một điều đáng ghi là cô Lê Thị Lựu không ngần ngại là quần vận, yếm mang, chen chân thích cánh với bọn hoạ sĩ đàn ông, mà cái hay cái khéo của cô lại hơn người, thật là vẻ vang cho phụ nữ nước nhà.
Năm 1933, tại một Triển lãm Thuộc địa ở Paris, Lê Thị Lựu đã giới thiệu các bức tranh lụa và sơn dầu vẽ cảnh Đế Thiên Đế Thích cùng người ăn mày, cũng như một bức khác mang tên Người và vật. Những họa phẩm này trước đó từng được trưng bày tại Triển lãm Phụ nữ tân văn 1932. Từ năm 1933 đến 1935, theo quy chế đương thời, bà được bổ nhiệm làm giáo sư lần lượt ở các trường Trung học Bảo hộ (sau là trường Bưởi), trường Nữ sinh Đồng Khánh và trường tư thục Hồng Bàng Hà Nội. Với tư cách là hướng đạo sinh, Lựu cũng tham dự Trại họp bạn Hướng đạo toàn quốc tại Sân vận động Mayer, Sài Gòn. Bà đã kết hợp sử dụng năm thứ ngũ cốc để tạo thành chân dung ông Robert Baden-Powell, đồng thời tham gia thiết kế mẫu huy hiệu "Hướng đạo Việt Nam" với biểu trưng cách điệu từ hoa sen và được dùng làm một trong những huy hiệu chính thức của tổ chức cùng tên. Năm 1933 hoặc 1934, bà cùng nữ giáo sư trung học Chenevier lập nên tổ chức "Bầy sói con Trứng Rồng", truyền đạt cho những thanh thiếu niên tham gia có tư tưởng tiến bộ, thích nghi với mọi hoàn cảnh của đời sống.
Giai đoạn 1935–1936, Lê Thị Lựu chuyển vào Nam, dạy cho trường Nữ sinh Áo tím Sài Gòn (nay là Trường Trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai) và trường Mỹ nghệ và Trang trí Gia Định. Ngoài công việc chính, bà còn cộng tác với các ấn phẩm của Tự Lực văn đoàn như Ngày Nay, Phụ nữ tân văn, Đàn bà Mới, dùng bút hiệu Văn Đỏ dưới ký họa hay hình họa; và làm thơ, dù rất ít, bằng bút danh Thạch Ẩn do một nhà sư đặt cho. Những năm 1937 hoặc 1938–1939, nữ họa sĩ trở ra Hà Nội dạy trường Trung học Bảo hộ và Đăng Ten. Năm 1939, cùng với Tô Ngọc Vân, Lê Thị Lựu tham gia vào "Nhóm kịch Thế Lữ" với vai trò trang trí các vở diễn gây được tiếng vang cho công chúng. Thời gian này, ba người bạn của bà là Mai Thứ, Lê Phổ và Cao Đàm đều đã qua định cư tại Pháp, trong bối cảnh giới họa sĩ lúc bấy giờ muốn tới Pháp để tiếp xúc trường phái Paris. Lựu cũng không nằm ngoại lệ. Đến tháng 3 năm 1940, bà cùng chồng là ông Ngô Thế Tân xuất ngoại sang Pháp từ Sài Gòn bằng đường thủy. Chồng bà khi đó là công chức chính quyền nhận thuyên chuyển qua Pháp để làm việc cho Ban kỹ thuật Canh nông Nhiệt đới, thay cho những đồng nghiệp Pháp nhập ngũ tham gia chiến tranh.
=== 1940–1960: Tham gia hoạt động cách mạng và trở lại với hội họa ===
Sau khi tàu cập bến Marseille, Pháp tháng 4 năm 1940, vào tháng 6 cùng năm, Lê Thị Lựu và chồng di chuyển lên Paris. Tuy nhiên khi tới nơi lại đúng lúc thành phố đang bị Đức ném bom. Hai người lên kế hoạch đi thăm xưởng vẽ ở Paris của ba người bạn họa sĩ Vũ Cao Đàm, Lê Phổ và Mai Trung Thứ nhưng vừa đến đã biết tin cả ba phải đi nhập ngũ. Sau một thời gian về Nantes rồi quay lại Paris trong điều kiện thiếu thốn và khó khăn, đến tháng 6 năm 1941, khi này Lựu đã sinh con, cả gia đình bà xuống Marseille để đón tàu về nước nhưng không may hết tàu do trong tình trạng thời chiến. Vì vậy, bà cùng chồng di chuyển về Nice ở chung với Lê Phổ, lúc đó đã giải ngũ, rồi trú khu trọ Pension des Etats Unis do Cao Văn Bổn quản lý một năm tròn, trước khi ông Tân nhậm chức làm giám đốc Vườn Thử Nghiệm Thực Vật Kindia (Jardin d'Essai de Kindia), thị trấn Kindia nước Guinée châu Phi. Trong suốt thời gian từ khi sang Pháp đến tại Guinée, bà gần như không động đến hội họa vì bận chăm con và thiếu thốn dụng cụ, nhưng có vẽ mươi hình cô gái đồng trinh bản xứ do tòa sứ Pháp đặt để trang trí phòng khách ở Kindia. Nữ họa sĩ cũng nhiều lần được giám đốc trường thủ công nghệ tại thị trấn mời làm giáo sư nhưng đều bị bà từ chối. Vào năm 1943, Lê Thị Lựu đã cho ra đời bức Chân dung người Guinée, vẽ bằng bút chì trên giấy kraft dùng để gói hàng.
Năm 1945, chiến tranh kết thúc, Lê Thị Lựu trở về Paris và ở tạm xưởng vẽ với Mai Thứ một thời gian. Năm 1947, bà dọn sang số 41 phố rue Blomet quận 15 và là hàng xóm của Lê Phổ; đây là nhà giáo sư Trần Hữu Tước khi về nước sang tên lại. Trong khi nghỉ mát cùng chồng vào mùa hè 1946 ở Chedde, tỉnh Haute–Savoie, bà đã biết được tình hình quê nhà khi các phong trào cách mạng chống thực dân giành độc lập trở nên sôi động và lên tận Paris, nơi đang diễn ra Hội nghị Fontainebleau, để trực tiếp lấy tin cũng như gặp người quen trong phái đoàn Việt Nam do Phạm Văn Đồng dẫn dắt. Qua sự kiện trên, vợ chồng bà Lựu chọn theo hướng ủng hộ phong trào: ông Tân nghỉ làm công chức cho chính quyền Pháp và sau đó cùng vợ lập một hiệu buôn nhỏ để sinh sống.
Sau khi ổn định mưu sinh, bà tích cực tham gia vào phong trào chống thực dân khi liên hệ đại diện chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trần Ngọc Danh, hay các đại diện Hội người Việt tại Pháp như Phạm Huy Thông, Nguyễn Khắc Viện. Ngô Thế Tân làm Phó Chủ tịch Hội người Việt sống tại Pháp còn Lê Thị Lựu giữ chức thủ quỹ Hội Liên hiệp Trí thức (thuộc Hội người Việt). Trong thời gian trên, bà đã gửi các tranh vẽ của mình cho phái đoàn Quốc hội Việt Nam, theo lời hiệu triệu từ Ủy ban tổ chức Triển lãm để dựng nên triển lãm tranh đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào năm 1946, cũng như thiết kế mẫu tem cho chính phủ Việt Nam lâm thời. Bà đã tham dự các buổi họp Phong trào Hòa bình Thế giới tổ chức ngay trên đất Pháp và ngoại quốc, bất chấp việc nằm trong "sổ đen" của chính quyền sở tại và luôn luôn bị truy vấn bởi cảnh sát, mật vụ, v.v.. Tới năm 1960, khi thấy chính phủ miền Bắc Việt Nam chuẩn bị tiến công vào miền Nam bằng vũ trang, bà Lựu cùng ông Tân quyết định tách khỏi hoạt động của các nhóm hội này.
Năm 1953, gia đình bà dọn về ở số 10 ngõ Joséphine, thị xã Gentilly, ngoại ô phía Nam Paris. Từ năm 1954, sau Hiệp định Genève, Lê Thị Lựu bắt đầu trở lại với hội họa. Thời điểm này, nhờ sự tiếp đón tận tình của Ngô Thế Tân – khi đó vẫn đang là Phó Chủ tịch Hội người Việt ở Pháp – với phái đoàn Thương mại miền Bắc Việt Nam, ông đã được đề bạt lên làm cho Bộ Ngoại thương và đến năm 1956 thì nhận công tác về Việt Nam. Sau khi chồng đi làm xa, Lê Thị Lựu quyết tâm bỏ hẳn việc buôn bán, hoạt động hội họa tích cực.
Để làm quen với môi trường mỹ thuật, ngày ngày bà đều tham quan bảo tàng, phòng triển lãm cộng đồng, cá nhân và các cửa hiệu bán tranh trong thành phố. Lựu cũng thường lui đến phòng vẽ La Chaumière để ký họa người mẫu khỏa thân bằng bút chì trên giấy và theo học tại École du Louvre, nhưng sau mấy tháng thì bỏ dở vì nhận thấy chương trình học không giúp ích gì cho bản thân. Trong quãng thời gian trên, tuy có quyết tâm học hỏi, Lê Thị Lựu lại trở nên do dự trước vô số các trường phái và khuynh hướng mới ra đời nhưng xa vời với lối vẽ cùng quan niệm của bà. Sau khi suy nghĩ kĩ, bà quyết định đi theo con đường sáng tạo dựa trên những quan niệm hội họa do chính bà đặt ra và hoàn toàn theo đuổi nghệ thuật tranh lụa.
Khởi đầu cho việc trở lại làm họa sĩ, năm 1957, Lê Thị Lựu thường xuyên đem tranh đến phòng trưng bày Chapelin cạnh Điện Elysée. Năm 1959, ba bức lụa nhỏ bà sáng tác cùng được trưng bày ở trung tâm phòng triển lãm hàng năm Hội liên hiệp phụ nữ hội họa và điêu khắc (Union des femmes peintres et sculpteurs). Chỉ ngay trong buổi khai mạc, có hai người Mỹ đã mua hai bức tranh của bà, tranh còn lại thì do bà chủ phòng tranh Chapelin nhận. Cả ba tác phẩm trên sau đó đem về cho Lê Thị Lựu giải nhất trong các tranh và bà được phong làm thành viên thực thụ (Sociétaire) của hội, đồng nghĩa với việc tranh của bà khi trưng bày sẽ không bao giờ cần phải qua sự giám sát.
=== 1960–1988: Thời kỳ tranh lụa "toàn bích", những tác phẩm cuối cùng ===
Sau một thời gian thể nghiệm và theo đuổi nghệ thuật tranh lụa, từ năm 1960, Lê Thị Lựu đã kiện toàn phong cách tranh lụa của riêng mình và cho ra đời nhiều tác phẩm được đánh giá là "toàn bích". Trong giai đoạn này, bức vẽ thành công nhất của Lê Thị Lựu là Mẹ địu con, vẽ k. 1970-1975, từng được in thành nhiều phiên bản cho cơ quan từ thiện bán lấy tiền.
Năm 1962, Lê Thị Lựu trở thành giáo sư hội họa trường Lycée Corot; một năm sau đó vào 1963 bà tiếp tục làm giáo sư tại hai trường Lycée Rodin Paris và Lycée d’Orsay vùng ngoại ô Paris. Ngày 4 tháng 12 năm 1963, Lê Thị Lựu đã tham gia vào buổi triển lãm tranh với những họa sĩ khác ở trung tâm Foyer des Artistes trên đại lộ Montparnasse. Đến năm 1971, sau khi cùng chồng nghỉ hưu, gia đình bà chuyển về sống tại biệt thự An Trang, đường Renaude, làng Spéracèdes, miền Nam nước Pháp vùng Địa Trung Hải.
Trong những năm cuối đời, bà đã hoàn thành nhiều tác phẩm lớn và ghi dấu ấn trong sự nghiệp của mình. Bức Kim Kiều gặp gỡ là tác phẩm mà bà vẽ trong thời gian lâu nhất, bắt đầu từ năm 1975 nhưng sang đến thập niên 1980 chưa xong, thỉnh thoảng chỉnh sửa lại nhưng vẫn chưa ưng ý. Họa phẩm cùng chủ đề Kiều gảy đàn tỳ bà mà nữ họa sĩ sáng tác vào k. 1987, cũng được coi là nổi trội giai đoạn này. Tác phẩm cuối cùng của Lê Thị Lựu trước khi qua đời là bức Tam đại đồng đường, hoàn thành năm 1988.
== Trường phái, sáng tác ==
Trong sự nghiệp sáng tác hội họa, Lê Thị Lựu từng đi theo nhiều trường phái khác nhau. Trước và sau khi đỗ vào trường, bà là họa sĩ theo đuổi chủ nghĩa hiện thực; khi học tại trường Mỹ thuật Đông Dương, bà được dạy vẽ theo trường phái cổ điển và đây là trường phái xuất hiện xuyên suốt trong các tác phẩm của bà. Lựu cũng theo đuổi chủ nghĩa biểu hiện, có thể thấy rõ qua những họa phẩm bà sáng tác trong thời gian sống tại Pháp. Ở lĩnh vực tranh sơn dầu, bà sở hữu lối vẽ tự nhiên, phi trường phái. Ở lĩnh vực tranh lụa, thời kỳ đầu, bút pháp và đề tài của Lê Thị Lựu đi theo hướng giống tranh cổ xưa nhưng màu sắc tươi hơn. Đến về sau thì bà hơi hướm theo phong cách của Amedeo Modigliani, điển hình như bức Ba mẹ con góa phụ do bà vẽ năm 1954. Nữ họa sĩ có một thời gian dài chịu ảnh hưởng theo trường phái ấn tượng ở tranh lụa, nổi bật trong đó là các danh họa Pierre-Auguste Renoir, Pierre Bonnard, v.v.. Tuy nhiên, bố cục, đề tài và màu sắc trong tranh của Lê Thị Lựu lại có sự riêng biệt, mang tinh thần phương Đông, Việt Nam.
Bà đã được truyền dạy kiến thức và kỹ thuật hội họa phương Tây từ trường học. Trong những tác phẩm của mình, Lê Thị Lựu ít chú ý thiên về cái đẹp thuần túy và tính truyền thống, giống như ba người bạn Phổ – Đàm – Thứ, mà thay vào đó tập trung khai thác tâm lý của từng bức họa. Tranh của bà luôn hướng tới vẻ đẹp hoàn thiện và lý tưởng. Khác với giai đoạn đầu khi các bức tranh của bà có lối diễn tả hình thể nhân vật vững chắc, già dặn, trong những tác phẩm về sau nữ họa sĩ lại không quá chú trọng vào hình khối. Đối với màu sắc cho tranh, bà thường áp dụng bảng màu tươi sáng, ánh sáng êm dịu với các tông màu của xanh lam, xanh lục, hồng. Từng mảng màu tranh xếp chồng lẫn lên nhau, góp phần "tạo nên chiều sâu" cho tác phẩm. Những cảm xúc của nữ họa sĩ gửi gắm vào đường nét và màu sắc trong tranh được nhận xét là "mềm mại", "dịu dàng".
=== Sáng tác tranh lụa ===
Ban đầu lúc đang học ở trường Mỹ thuật, Lê Thị Lựu học vẽ tranh lụa theo phong cách cổ truyền Trung Quốc, tuy nhiên cách vẽ này có nhược điểm bị giới hạn trong sự đơn sắc vì lụa rất mỏng, sự phân bố màu sắc khó khăn nên tranh của các họa sĩ tranh lụa thường có từng mảng đồng màu hoặc vài mảng màu tô đậm nhạt khác nhau. Đến sau này, họa sĩ Vũ Cao Đàm mới trở thành người tiên phong trong việc tìm ra một cách vẽ mới cho tranh lụa có thể khắc phục những khuyết điểm cũ của lối vẽ theo Trung Quốc: thay vì căng lụa vẽ màu nước rồi bồi lên bìa cứng thì ông bồi lụa lên trước khi vẽ; điều này sẽ giúp họa sĩ có thể vẽ trên lụa và dùng nhiều màu.
Sau khi trở lại hội họa và chuyên tâm theo đuổi tranh lụa, Lê Thị Lựu cũng làm theo kỹ thuật này của Cao Đàm. Thế nhưng, các họa phẩm bà vẽ lại hoàn toàn khác với các họa sĩ tranh lụa khi đó như Vũ Cao Đàm, Nguyễn Phan Chánh: tranh lụa của Lựu thiên về cách tiếp cận phương Tây, giàu màu sắc và nhiều lớp lụa đắp dày; bà tìm tòi để kết hợp giữa nghệ thuật vẽ lụa với kỹ thuật ấn tượng nhằm tạo ra một phong cách vẽ tranh lụa mới của riêng mình: vừa có nét mềm mại, lại tự nhiên đậm tính nữ. Cũng vì cách vẽ này mà màu tranh của bà có người nhầm sang màu phấn.
Thông thường, quá trình sáng tác cho một bức tranh lụa của Lê Thị Lựu bắt đầu từ khâu chọn khổ lụa, rồi sau đó sắp bút, phác trước đề tài sẽ vẽ bằng fusain trên giấy. Nhiều tranh lụa của bà được vẽ trên khung nhỏ. Sau khi phác họa hoàn chỉnh thì nữ họa sĩ tiếp tục phác màu. Bà phác đều các màu lên tranh để xem cân đối giữa các mảng, kế đến thì đi vào chi tiết là vẽ lại lên mặt trước của tranh. Ở khâu chuẩn bị, ngoài công cụ vẽ, bà cũng sắp sẵn màu và chọn băng nhạc để nghe, rồi giở mấy trang sách mỹ thuật hòa mình vào hội họa; khi vẽ, bà say sưa đến mức "quên đói và quên cả khát". Trong những nét vẽ đầu, Lê Thị Lựu thường không hài lòng và cứ vẽ rồi lại xóa. Có nhiều bức bà vẽ đi vẽ lại cả nhiều năm trời mới xong.
Thời gian bà dành cho mỗi bức lụa là không xác định, dựa theo nguồn cảm hứng nữ họa sĩ. Một bức thường sẽ hoàn thành trong vài ngày, nhưng có bức bà lại vẽ giữa chừng rồi để dở, vài năm sau vẽ nốt. Tác phẩm vẽ nhanh nhất của Lê Thị Lựu được cho là bức lụa Em bé mồ côi, mà bà hoàn thành chỉ trong một buổi chiều.
====================
Nguồn tham khảo: Wikipedia0



