Nhà văn Nam Cao – Đỉnh cao của dòng văn học hiện thực và Người trí thức chiến sĩ kiên trung
Trong nền văn học hiện thực Việt Nam thế kỷ XX, Nam Cao chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Ông không chỉ là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của dòng văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930 – 1945, mà còn là một nhà văn – chiến sĩ cách mạng tiên phong, đã dâng hiến trọn vẹn tài năng và cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Nhà văn Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh năm 1917 trong một gia đình nông dân nghèo tại làng Đại Hoàng, xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Với tấm lòng nhân hậu và sự quan sát tinh tế, ông đã đưa những mảnh đời lam lũ, bất hạnh của quê hương vào trong từng trang viết, tạo nên những kiệt tác bất hủ cho nền văn học nước nhà.
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nam Cao tập trung sáng tác về hai đề tài chính: người nông dân nghèo bị tha hóa, đẩy vào đường cùng và người trí thức tiểu tư sản nghèo sống mòn mỏi trong xã hội cũ. Ông là tác giả của hàng loạt truyện ngắn, tiểu thuyết kinh điển như "Chí Phèo", "Lão Hạc"... Qua ngòi bút nhân đạo sâu sắc, ông không chỉ phản ánh chân thực nỗi đau khổ, bế tắc của người nông dân dưới ách bóc lột của phong kiến và thực dân, mà còn phát hiện, trân trọng những bản chất tốt đẹp, thiên lương cao quý ẩn sâu bên trong những con người lầm lụi ấy.
Không dừng lại ở vai trò một người nghệ sĩ quan sát cuộc sống, Nam Cao luôn trăn trở về trách nhiệm của người trí thức trước thời cuộc. Năm 1943, ông vinh dự gia nhập Hội Văn hóa Cứu quốc – một tổ chức cách mạng do Đảng dẫn dắt. Đến tháng 8 năm 1945, ông trực tiếp tham gia cuộc tổng khởi nghĩa cướp chính quyền tại quê nhà Hà Nam, đóng góp sức mình vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc.
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, Nam Cao gạt bỏ những ưu tư cá nhân, rời quê hương lên chiến khu Việt Bắc để tham gia kháng chiến. Ông đảm nhiệm nhiều công tác văn nghệ, báo chí tại các cơ quan Trung ương, dùng ngòi bút sắc bén của mình để tuyên truyền, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta. Sáng tác của ông thời kỳ này có sự chuyển biến rõ rệt về tư tưởng, tiêu biểu là tác phẩm "Đôi mắt" (1948) – một kiệt tác tuyên ngôn nghệ thuật, thể hiện cái nhìn mới mẻ, tin tưởng của người trí thức cách mạng đối với quần chúng nhân dân kháng chiến.
Năm 1951, trong một chuyến đi công tác đột nhập vào vùng địch hậu ở Nam Hà để thu thập tài liệu và phát động phong trào, nhà văn Nam Cao đã rơi vào ổ phục kích của kẻ thù. Ông đã anh dũng hy sinh khi tài năng đang ở độ chín rực rỡ nhất, để lại niềm thương tiếc vô hạn cho đồng nghiệp, đồng chí và đông đảo bạn đọc.
Sự ra đi của Nam Cao ở tuổi 34 là một tổn thất vô cùng to lớn cho nền văn học cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, di sản văn học mà ông để lại vẫn giữ nguyên giá trị nghệ thuật và tư tưởng nhân đạo vượt thời gian. Để ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông, năm 1996, Nhà nước Việt Nam đã truy tặng nhà văn Nam Cao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học và Nghệ thuật (đợt I) – giải thưởng cao quý nhất dành cho các tác phẩm có giá trị đặc biệt lớn cho nền văn học nghệ thuật nước nhà.



