Bài viết

NHÀ VĂN NGUYỄN CÔNG HOAN (1903 – 1977) – BẬC THẦY TRUYỆN NGẮN TRÀO PHÚNG, NGỌN CỜ ĐẦU CỦA VĂN HỌC HIỆN THỰC PHÊ PHÁN VÀ CHỦ TỊCH ĐẦU TIÊN CỦA HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

Thanh Hóa27/10/2026Nguyễn Ngọc Minh Ánh (Phường Dĩ An)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

XUẤT THÂN NHO HỌC, NGHỀ GIÁO VÀ CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI VĂN CHƯƠNG

Nguyễn Công Hoan sinh ngày 6/3/1903 tại làng Xuân Cầu, tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên) – vùng quê văn hiến giàu truyền thống yêu nước.

  • Truyền thống gia đình: Ông xuất thân trong một gia đình quan lại Nho học thất thế. Dù hoàn cảnh kinh tế sa sút, ông sớm được tiếp xúc với văn chương cổ điển phương Đông và văn học Pháp hiện đại. Em trai ông là đồng chí Lê Văn Lương (tên thật là Nguyễn Công Miều) – sau này là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; một người em khác là nhà văn hóa, nhà báo quân đội Nguyễn Công Mỹ.

  • Nghề gõ đầu trẻ: Năm 1926, sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, ông trở thành giáo viên tiểu học. Ông bị chính quyền thực dân liên tục thuyên chuyển qua nhiều nơi: Hải Dương, Nam Định, Lào Cai, Trà Cổ (Quảng Ninh)... vì tính tình bộc trực, hay bênh vực kẻ yếu và không chịu luồn cúi cấp trên.

  • Vốn sống từ hiện thực lầm than: Chính những năm tháng dạy học ở vùng quê nghèo và các đô thị xô bồ đã mang lại cho ông vốn sống ngồn ngộn về mọi tầng lớp xã hội: từ quan lại tham nhũng, nghị viên lố bịch, địa chủ bóc lột đến phu xe, gái điếm, người ăn mày và người nông dân bần cùng.

  • BẬC THẦY NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN TRÀO PHÚNG (1930 – 1945)

    Nguyễn Công Hoan bắt đầu viết văn từ rất sớm (tác phẩm đầu tay Kiếp hồng nhan xuất bản năm 1923 khi ông mới 20 tuổi). Tuy nhiên, tài năng của ông thực sự nở rộ rực rỡ vào những năm 1930, đưa ông lên vị trí ngọn cờ đầu của trào lưu hiện thực phê phán:

    • Bút pháp trào phúng độc nhất vô nhị:

    Ông sở hữu nghệ thuật dựng truyện bậc thầy: mở đầu tự nhiên, thắt nút bất ngờ và kết thúc bằng một cú lật tình huống sắc lạnh, phơi bày tấn bi hài kịch của đời sống. Tiếng cười của Nguyễn Công Hoan không đơn thuần là cười cợt mà là vũ khí công kích sắc bén nhắm vào bản chất tàn bạo của chế độ đương thời.

  • Kho tàng truyện ngắn kinh điển:

  • Ông để lại hơn 200 truyện ngắn đặc sắc tập hợp trong các tuyển tập nổi tiếng như Kép Tư Bền (1935), Hai thằng khốn nạn (1937), Đào kép mới (1937)... Trong đó có nhiều kiệt tác sống mãi với thời gian:

    • Tinh thần thể dục: Lột trần trò bịp bợm "thể thao thân thiện" của thực dân đè nặng lên lưng người nông dân nghèo đói.

  • Đồng hào có ma: Vạch trần thói hối lộ, nhũng nhiễu trơ trẽn của bọn quan huyện tay sai.

  • Bữa no: Nỗi đau xé lòng về thân phận cùng khổ của người già và trẻ nhỏ trước nạn đói.

  • Người ngựa, ngựa người: Bi kịch đau đớn của anh phu xe và cô gái bán hoa trong đêm trừ tịch giao thừa.

  • Các tiểu thuyết hiện thực xuất sắc:

  • Bên cạnh truyện ngắn, ông còn thành công vang dội với các tiểu thuyết: Tắt lửa lòng (1933 – tác phẩm sau này được chuyển thể thành vở cải lương kinh điển Lan và Điệp), Cô Két làm tôi điểm (1937), Bước đường cùng (1938) – cuốn tiểu thuyết hiện thực phác họa số phận bi thảm của người nông dân dưới ách áp bức của địa chủ Nghị Lại, bị chính quyền thực dân Pháp ra lệnh cấm lưu hành ngay sau khi xuất bản.

    THEO NGỌN CỜ CÁCH MẠNG VÀ PHỤNG SỰ KHÁNG CHIẾN

    Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bùng nổ, Nguyễn Công Hoan lập tức đứng về phía nhân dân và chính quyền công nông non trẻ:

    • Tham gia giành chính quyền và kháng chiến chống Pháp: Ông tham gia cướp chính quyền tại Hải Dương, sau đó giữ chức Giám đốc Nha Kiểm duyệt Báo chí Bắc Bộ. Khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ cuối năm 1946, ông theo cơ quan văn nghệ lên chiến khu Việt Bắc.

  • Ngòi bút chiến sĩ trên mặt trận: Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương vào năm 1948. Trong khói lửa kháng chiến, ông làm biên tập viên báo Cứu Quốc, báo Văn Nghệ, làm Hiệu trưởng Trường Viết văn Nguyễn Du đầu tiên, tích cực viết phóng sự, truyện ký cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta nơi mặt trận.

  • Đóng góp thời kỳ xây dựng miền Bắc: Sau năm 1954, trở về Thủ đô Hà Nội, ông tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm tiểu thuyết phản ánh sự đổi thay của xã hội như Tranh tối tranh sáng (1956), Hỗn canh hỗn cư (1961), Đống rác cũ (1963)...

  • CHỦ TỊCH ĐẦU TIÊN CỦA HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VÀ DI SẢN BẤT HỦ

    Nguyễn Công Hoan không chỉ là một nhà văn kiệt xuất mà còn là nhà tổ chức có uy tín lớn trong giới văn nghệ sĩ:

    • Năm 1957, tại Đại hội thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, ông vinh dự được toàn thể văn nghệ sĩ tín nhiệm bầu làm Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam (khóa I, 1957 – 1958).

  • Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam và đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa II.

  • Nhà văn Nguyễn Công Hoan từ trần ngày 6/6/1977 tại Hà Nội, hưởng thọ 74 tuổi.

  • VINH DANH LỊCH SỬ

    Ghi nhận những đóng góp to lớn cho nền văn học dân tộc và sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước đã trao tặng ông:

    • Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về Văn học – Nghệ thuật (1996) cho cụm tác phẩm xuất sắc (Kép Tư Bền, Bước đường cùng, Nông dân và địa chủ, Tranh tối tranh sáng...).

  • Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.

  • Nguyễn Công Hoan được các nhà nghiên cứu mệnh danh là "bậc thầy truyện ngắn", "nhà đại phẫu thuật xã hội bằng tiếng cười". Ngôn ngữ sống động đậm chất dân gian, nhân vật điển hình sinh động và tinh thần nhân đạo sâu sắc trong tác phẩm của ông mãi mãi là di sản vô giá trong kho tàng văn học Việt Nam. Tên của ông được đặt cho các trường học và những con đường khang trang tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hưng Yên cùng nhiều địa phương trên cả nước.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn