Khác

Nhà văn Trần Đình Vân - Mười lăm ngày ghi lại một cuộc đời bất tử

Ký ức của nhà báo, nhà văn Trần Đình Vân về quá trình gặp bà Phan Thị Quyên, vợ Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, để ghi lại những lần gặp gỡ cuối cùng giữa bà và người chồng vừa bị xử bắn, từ đó hình thành tác phẩm “Sống như Anh”.

Đắk Lắk06/06/2026Chi đoàn 2 (Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong cuộc đời làm báo và viết văn của Trần Đình Vân, có một câu chuyện khiến tên tuổi ông gắn mãi với lịch sử kháng chiến chống Mỹ. Đó không phải là câu chuyện ông trực tiếp cầm súng trên chiến trường, cũng không phải câu chuyện ông tận mắt chứng kiến phút Nguyễn Văn Trỗi ra pháp trường. Câu chuyện ấy bắt đầu từ một nhiệm vụ thầm lặng của người cầm bút: lắng nghe một người vợ trẻ kể lại những ngày cuối cùng của chồng mình, rồi ghi lại sao cho trung thực, xúc động và xứng đáng với sự hy sinh ấy.

Đầu năm 1964, nhà báo Thái Duy, với bút danh Trần Đình Vân, cùng một số đồng nghiệp từ miền Bắc vào miền Nam để xây dựng Báo Giải Phóng, cơ quan báo chí của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Con đường vào Nam khi ấy không phải là chuyến đi nghề nghiệp bình thường. Ông và đồng đội phải vượt Trường Sơn nhiều tháng ròng, đi trong rừng sâu, vượt qua bom đạn, bệnh tật, thiếu thốn, để đến được vùng căn cứ Tây Ninh. Với người làm báo trong chiến tranh, cây bút không tách khỏi chiến trường. Muốn viết về cách mạng miền Nam, phải sống trong lòng cách mạng miền Nam, phải chịu chung gian khổ với đồng bào, chiến sĩ.

Cuối năm 1964, cả miền Nam và cả nước bàng hoàng, xúc động trước sự hy sinh của Nguyễn Văn Trỗi, người chiến sĩ biệt động Sài Gòn bị chính quyền Sài Gòn xử bắn ngày 15 tháng 10 năm 1964. Anh Trỗi khi ấy mới 24 tuổi. Trước đó, anh cùng đồng đội nhận nhiệm vụ đặt mìn ở cầu Công Lý, nơi dự kiến phái đoàn quân sự cấp cao của Mỹ do Bộ trưởng Quốc phòng McNamara đi qua. Nhiệm vụ bị lộ, anh bị bắt, bị giam cầm, tra tấn, rồi bị kết án tử hình. Nhưng anh không khai báo, không khuất phục, bảo vệ cơ sở cách mạng đến phút cuối.

Sau ngày anh Trỗi hy sinh, hình ảnh người chiến sĩ trẻ hiên ngang ngoài pháp trường lan đi rất nhanh. Nhưng phía sau dáng đứng bất khuất ấy còn có một câu chuyện khác, rất lặng, rất đau: câu chuyện của người vợ trẻ Phan Thị Quyên. Chị cưới anh chưa lâu thì chồng bị bắt. Từ cô gái bình thường sống giữa Sài Gòn, chị trở thành người đi qua những ngày chờ đợi, thăm nuôi, lo sợ và mất mát. Chính chị là người giữ trong ký ức mình những lần gặp gỡ cuối cùng với anh Trỗi trong nhà lao.

Tháng 3 năm 1965, tại Đại hội Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam, chị Phan Thị Quyên được đón từ Sài Gòn ra vùng giải phóng. Trần Đình Vân được phân công gặp chị, nghe chị kể lại câu chuyện về Nguyễn Văn Trỗi. Đó là một nhiệm vụ đặc biệt. Người viết chưa từng gặp anh Trỗi lúc còn sống. Ông không thể bịa ra một hình tượng anh hùng theo trí tưởng tượng. Ông phải tìm anh Trỗi trong lời kể của người vợ, trong ký ức của đồng đội, trong những chi tiết đời thường, trong tình yêu, trong sự chia ly và trong khí phách của người chiến sĩ trước cái chết.

Những ngày gặp chị Quyên, Trần Đình Vân không chỉ hỏi chuyện như một phóng viên lấy tư liệu. Ông phải ngồi thật lâu, lắng nghe thật kỹ, để người kể có thể đi lại trong nỗi đau của mình. Có những điều chị Quyên kể ra không chỉ là sự kiện, mà là vết thương. Đó là những ngày sau đám cưới ngắn ngủi, là lúc anh Trỗi bị bắt, là những lần chị được gặp chồng trong nhà lao, là cảm giác nhìn người mình thương yêu chịu giam cầm mà không thể cứu. Với người phụ nữ trẻ ấy, mỗi lần gặp chồng trong tù vừa là niềm hạnh phúc hiếm hoi, vừa là một lần gần hơn với chia ly.

Trần Đình Vân đã chọn cách ghi lại câu chuyện qua giọng kể của chị Quyên. Ông để người vợ trẻ dẫn người đọc đi qua tình yêu, niềm tin và nỗi đau của mình. Nhờ vậy, Nguyễn Văn Trỗi trong trang sách không hiện lên như một tượng đài xa cách. Anh hiện lên gần gũi: một người công nhân trẻ, một người chồng vừa cưới vợ, một chiến sĩ biệt động biết yêu thương nhưng cũng biết đặt Tổ quốc lên trên hạnh phúc riêng. Chính sự gần gũi ấy làm cho sự hy sinh của anh càng xúc động.

Trong mười lăm ngày, Trần Đình Vân hoàn thành bản thảo đầu tiên với tên gọi “Những lần gặp gỡ cuối cùng”. Mười lăm ngày ấy là mười lăm ngày làm việc gần như không nghỉ. Ở vùng giải phóng, điều kiện thiếu thốn, chiến tranh còn bao quanh. Nhưng người viết hiểu rằng câu chuyện này phải được ghi lại ngay, khi ký ức còn nóng hổi, khi cả miền Nam đang xúc động trước tấm gương Nguyễn Văn Trỗi, khi lời kể của chị Quyên còn nguyên hơi thở của những ngày vừa qua.

Bản thảo sau đó được gửi ra miền Bắc bằng đường giao liên đặc biệt. Trong chiến tranh, một bản thảo cũng có hành trình riêng của nó. Nó phải vượt qua vùng địch kiểm soát, qua những chặng đường bí mật, để đến được Hà Nội. Tác phẩm ban đầu mang tên “Những lần gặp gỡ cuối cùng”, sau đó được Thủ tướng Phạm Văn Đồng đặt lại tên là “Sống như Anh”. Chữ “Anh” trong tên sách không chỉ là cách gọi người chồng của chị Quyên, mà còn là cách gọi người anh hùng của cả một thế hệ.

Khi “Sống như Anh” được xuất bản, cuốn sách nhanh chóng lan rộng. Nó được đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam, được in lần đầu tại Nhà xuất bản Văn học năm 1965, rồi tái bản nhiều lần. Đối với thanh niên miền Bắc và cả nước những năm chống Mỹ, “Sống như Anh” không chỉ là một cuốn sách. Nó là lời gọi lên đường. Nó làm cho người đọc hiểu rằng người anh hùng không phải ai xa lạ, mà có thể là một người thợ điện trẻ giữa Sài Gòn, một người chồng mới cưới, một người con bình dị nhưng biết sống trọn vẹn cho lý tưởng.

Điều đặc biệt trong câu chuyện của Trần Đình Vân là ông đã làm đúng phận sự cao nhất của người ghi chép lịch sử: không đứng lên che khuất nhân vật, không biến nỗi đau của người khác thành lời văn khoa trương, mà lặng lẽ lắng nghe, chọn lọc và ghi lại bằng sự trung thực. Ông để chị Quyên được kể. Ông để anh Trỗi hiện lên qua tình yêu và ký ức của người vợ. Ông để người đọc tự cảm nhận sự lớn lao của một con người từ những chi tiết giản dị nhất.

Sau này, khi nhắc lại “Sống như Anh”, nhiều thế hệ nhớ đến Nguyễn Văn Trỗi, nhớ đến Phan Thị Quyên, và cũng nhớ đến Trần Đình Vân như người đã giữ lại câu chuyện ấy cho lịch sử. Nếu không có những ngày ông ngồi nghe chị Quyên kể ở vùng giải phóng, nếu không có bản thảo viết gấp trong mười lăm ngày, có lẽ nhiều chi tiết xúc động về những lần gặp gỡ cuối cùng ấy đã chỉ còn là ký ức riêng của một vài người.

Câu chuyện của nhà văn Trần Đình Vân vì vậy không chỉ là câu chuyện về một tác phẩm nổi tiếng. Đó là câu chuyện về trách nhiệm của người cầm bút trong chiến tranh. Có người chiến đấu bằng súng. Có người chiến đấu bằng đường dây liên lạc, bằng hầm bí mật, bằng gùi gạo qua rừng. Và có người chiến đấu bằng cách ghi lại sự thật, để một tấm gương hy sinh không bị thời gian làm mờ đi.

Từ lời kể của chị Phan Thị Quyên, qua ngòi bút của Trần Đình Vân, Nguyễn Văn Trỗi đã bước ra khỏi phút giây pháp trường để trở thành hình ảnh sống mãi trong lòng nhiều thế hệ. “Sống như Anh” không chỉ kể về cái chết anh dũng của một người chiến sĩ. Nó kể về cách một con người đã sống: yêu thương trong sáng, thủy chung với vợ, hiếu nghĩa với gia đình, trung thành với cách mạng và bình thản trước cái chết khi biết mình không phản bội đồng đội, không phản bội Tổ quốc.

Nhiều năm sau, khi chiến tranh đã lùi xa, đọc lại câu chuyện ấy vẫn thấy nguyên sức lay động. Bởi trong đó có nỗi đau của một người vợ, khí phách của một người chồng, trách nhiệm của một người viết và ký ức của cả một thời đất nước phải lựa chọn giữa mất mát và độc lập. Mười lăm ngày làm việc của Trần Đình Vân đã giữ lại cho lịch sử không chỉ một bản anh hùng ca, mà còn một bản tình ca thời chiến: tình yêu riêng hòa vào tình yêu nước, nước mắt riêng hóa thành sức mạnh chung của cả dân tộc.

Các chi tiết chính được đối chiếu từ VietnamPlus và Nhân Dân: Trần Đình Vân là bút danh của nhà báo Thái Duy, tên thật Trần Duy Tấn, sinh năm 1926; ông tham gia xây dựng Báo Giải Phóng ở miền Nam và gắn tên tuổi với tác phẩm “Sống như Anh”, viết về Nguyễn Văn Trỗi qua lời kể của bà Phan Thị Quyên. Nguồn Đại biểu Nhân dân Nghệ An và QĐND nêu rõ tháng 3/1965, ông được phân công gặp bà Phan Thị Quyên ở vùng giải phóng; trong 15 ngày hoàn thành bản thảo ban đầu mang tên “Những lần gặp gỡ cuối cùng”, sau đó được đặt lại là “Sống như Anh” và xuất bản lần đầu năm 1965.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn