Nhân chứng kể lại trận đánh then chốt ở cửa ngõ Sài Gòn trưa 30/4/1975
Nhân chứng kể lại trận đánh then chốt ở cửa ngõ Sài Gòn trưa 30/4/1975: Sáng sớm ngày 30/4/1975, tại cầu Sài Gòn – cửa ngõ phía Đông của thành phố, binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 gặp phải sự chống trả quyết liệt của quân đội Sài Gòn với hỏa lực mạnh, gồm xe tăng, hỏa điểm chống tăng, lô cốt kiên cố và cả tàu chiến dưới sông bắn yểm trợ. Trong khói lửa ác liệt ấy, các chiến sĩ quân Giải phóng vừa tiến công, vừa đánh quét, với mục tiêu duy nhất: đánh thẳng vào Dinh Độc Lập, kết thúc chiến tran
Nhân chứng kể lại trận đánh then chốt ở cửa ngõ Sài Gòn trưa 30/4/1975
Sáng sớm ngày 30/4/1975, tại cầu Sài Gòn – cửa ngõ phía Đông của thành phố, binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 gặp phải sự chống trả quyết liệt của quân đội Sài Gòn với hỏa lực mạnh, gồm xe tăng, hỏa điểm chống tăng, lô cốt kiên cố và cả tàu chiến dưới sông bắn yểm trợ. Trong khói lửa ác liệt ấy, các chiến sĩ quân Giải phóng vừa tiến công, vừa đánh quét, với mục tiêu duy nhất: đánh thẳng vào Dinh Độc Lập, kết thúc chiến tranh.
Là một trong số rất ít người trực tiếp có mặt tại Dinh Độc Lập trong thời khắc lịch sử bắt và dẫn giải Dương Văn Minh ra Đài phát thanh Sài Gòn để tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trưa 30/4/1975, ông Nguyễn Văn Nhu (còn gọi là Nguyễn Khắc Nhu, 77 tuổi), Trợ lý tác chiến Trung đoàn bộ binh 66, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2, đã kể lại những quyết định mang tính bước ngoặt trong giờ phút sinh tử ấy.
Chỉ vào bức ảnh nổi tiếng ghi lại khoảnh khắc dẫn giải ông Dương Văn Minh từ Dinh Độc Lập ra Đài phát thanh, ông Nhu xác nhận: chính ông là người cầm súng ngắn đi phía sau ông Minh. Đi trước bên phải là chiến sĩ Bàng Nguyên Thất, bên trái là Phạm Xuân Thệ, khi đó là Đại úy, Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66, cũng cầm súng ngắn, cùng một số cán bộ, chiến sĩ khác của đơn vị.
Ông Nhu cho biết, ông và ông Phạm Xuân Thệ đều nằm trong mũi chỉ huy của binh đoàn thọc sâu Quân đoàn 2, phối hợp cùng Lữ đoàn xe tăng 203 đánh từ hướng Đông tiến thẳng vào nội đô Sài Gòn. Đang kể chuyện, ông dừng lại, nhấn mạnh từng lời:
“Đây là sự thật. Tôi là người có mặt, trực tiếp tham gia và chứng kiến.”
Binh đoàn thọc sâu đánh thẳng vào Dinh Độc Lập
Theo mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân đoàn 2 tổ chức binh đoàn thọc sâu, đánh thẳng vào Dinh Độc Lập – sào huyệt cuối cùng của chính quyền Sài Gòn. Lực lượng gồm Trung đoàn bộ binh 66, Lữ đoàn xe tăng 203, cùng công binh, pháo binh và các đơn vị phối thuộc, tiến công trên một hướng duy nhất.
Trước đó, các đơn vị của Quân đoàn 2 hành quân dọc duyên hải miền Trung, vừa hành tiến vừa chiến đấu, lần lượt giải phóng các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy. Khi Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, Sư đoàn 304 tiến công căn cứ Nước Trong (Đồng Nai) – phòng tuyến cuối cùng bảo vệ cửa ngõ phía Đông Sài Gòn, nơi tập trung nhiều trường sĩ quan và trung tâm huấn luyện của đối phương. Quân địch chống trả vô cùng quyết liệt.
Trung đoàn 66 được giao nhiệm vụ dự bị cho Trung đoàn 24. Nếu Trung đoàn 24 không đánh chiếm được căn cứ Nước Trong, Trung đoàn 66 sẽ vào phối hợp và buộc phải đánh bằng được. Sau gần ba ngày chiến đấu ác liệt, từ đêm 26 đến 10 giờ sáng ngày 29/4/1975, ta hoàn toàn làm chủ khu vực Nước Trong và ngã ba đường số 15, mở toang “cánh cửa thép” phía Đông cho lực lượng thọc sâu tiến vào nội thành Sài Gòn.
Theo phương án tác chiến, Tiểu đoàn 7 của Trung đoàn 66 được giao nhiệm vụ đánh chiếm Dinh Độc Lập, Tiểu đoàn 8 đánh Đài phát thanh Sài Gòn. Là mũi thọc sâu, lực lượng chỉ tiêu diệt các ổ đề kháng trực diện trên đường tiến quân, còn hai bên để lại cho các đơn vị phía sau xử lý.
Khoảng 5 giờ sáng 30/4, khi đến cầu Sài Gòn, binh đoàn thọc sâu gặp phải sự kháng cự dữ dội của đối phương. Ta tiêu diệt được bốn xe tăng địch, nhưng cũng bị tổn thất hai xe tăng và hơn mười cán bộ, chiến sĩ hy sinh, trong đó có Tiểu đoàn trưởng xe tăng hy sinh ngay trên tháp pháo.
Quân ta vừa đánh vừa tiến. Khi vượt cầu, ông Nhu nhìn thấy các chiến sĩ đặc công nằm áp sát mặt cầu, làm nhiệm vụ giữ cầu cho đại quân tiến vào. Khoảng 9 giờ sáng, lực lượng thọc sâu vượt qua cầu Sài Gòn, tiếp tục tiến về Dinh Độc Lập. Ông Nhu đi trên xe jeep, các chiến sĩ khác bám hai bên thành xe tăng hoặc đi trên xe cơ giới tăng cường, đội hình tiến quân rất nhanh.
Tại cầu Thị Nghè, quân ta lại chạm địch, chiến đấu trong khoảng 10–15 phút rồi vượt qua. Đến Thảo Cầm Viên, người dân cầm cờ giải phóng chạy ra dẫn đường cho bộ đội tiến thẳng về Dinh Độc Lập.
Thời khắc quyết định tại Dinh Độc Lập
Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, hai xe tăng của Lữ đoàn 203 do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy tiến vào Dinh Độc Lập. Xe 843 húc vào cổng phụ nhưng chết máy. Xe 390 lập tức lao lên, húc đổ cổng chính. Cánh cổng bung ra, các xe và lực lượng bộ binh theo sau tiến vào sân mà không gặp thêm sự kháng cự nào.
Tại sảnh dinh, một người đàn ông cao lớn tự giới thiệu là Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá cho Tổng thống Dương Văn Minh, cho biết toàn bộ nội các đang chờ quân Giải phóng để “bàn giao”. Lúc đó, quân ta mới biết Dương Văn Minh vẫn còn ở trong dinh.
Khi được giới thiệu, ông Minh mặc áo kaki xám bốn túi, đeo kính. Ông Vũ Văn Mẫu – Thủ tướng – đứng bên cạnh. Trước đề nghị “bàn giao”, ông Phạm Xuân Thệ khẳng định dứt khoát:
“Các ông đã bị bắt làm tù binh. Các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không có bàn giao gì cả.”
Ông Nhu đề nghị phải nhanh chóng đưa Dương Văn Minh ra Đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng, tránh tiếp tục đổ máu. Tuy nhiên, việc dẫn giải Tổng thống cuối cùng của chính quyền Sài Gòn ra ngoài trong tình hình rối ren là quyết định vô cùng cân não. Dương Văn Minh lo sợ bị ám sát. Không thể liên lạc xin ý kiến cấp trên, các cán bộ tại chỗ phải tự quyết định.
Ông Nhu đề xuất đưa bằng xe jeep. Lực lượng lập tức bố trí bảo vệ, bọc lót xung quanh, còn Dương Văn Minh chỉ đường. Trưa hôm đó, tại Đài phát thanh Sài Gòn, Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, chấm dứt chiến tranh.
Hoàn thành nhiệm vụ, lực lượng áp giải đưa Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu trở lại Dinh Độc Lập, bàn giao cho cấp trên.
Linh cảm của người lính
Khi mọi việc đã xong, ông Nhu mới thực sự cảm nhận được niềm hạnh phúc lớn lao của ngày đất nước thống nhất. Ông nói, trong suốt quá trình làm nhiệm vụ, có cảm giác như được các liệt sĩ đã hy sinh che chở.
Sau này, Nguyễn Hữu An từng nói với ông và đồng đội:
“Chiến công này là của những người đã nằm xuống. Chúng ta chỉ là người đại diện.”
Sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên tại phố Hàng Vải (Hà Nội), nhập ngũ năm 19 tuổi, chiến đấu suốt chín năm từ Khe Sanh đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Nhu luôn khẳng định: chiến thắng ấy là công lao của Đảng, của nhân dân, của những người đã hy sinh và của đồng bào Sài Gòn – Gia Định đã âm thầm che chở, giúp đỡ lực lượng cách mạng.
Ghi theo lời kể của ông Nguyễn Văn Nhu (Nguyễn Khắc Nhu),
Trợ lý tác chiến Trung đoàn bộ binh 66, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2.



