Nhân chứng lịch sừ Trần Thanh Hải
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
Đôi Chân Gửi Lại Chiến Trường
Mỗi năm cứ đến những ngày kỷ niệm chiến tranh biên giới Tây Nam, chú tôi lại ngồi lặng im bên hiên nhà, đôi mắt đục mờ nhìn xa xăm vào khoảng không vô định. Nơi góc nhà, chiếc xe lăn và đôi nạng gỗ đứng im lìm như những chứng nhân của một thời hoa lửa. Chú tôi – một cựu chiến binh chiến trường Campuchia – đã đi qua những năm tháng thanh xuân rực rỡ nhất bằng một cái giá rất đắt: đôi chân của mình.
cái tuổi đẹp nhất của đời người với bao ước mơ, hoài bão. Nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, chú gác lại bút nghiên, từ biệt lũy tre làng để lên đường sang Campuchia. Khi đó, đất nước bạn đang quằn quại dưới thảm họa diệt chủng Pol Pot, và biên giới nước ta thì bị xâm phạm.
Chú kể, những ngày đầu sang K (cách bộ đội ta gọi Campuchia) là những chuỗi ngày đối mặt với cái đói, cái khát và cái rét rừng. Nhưng đáng sợ nhất không phải là những trận đánh trực diện, mà là sự rình rập của những bãi mìn khét tiếng do tàn quân Khmer Đỏ gài khắp nơi trong rừng sâu.
Đó là một buổi chiều mùa khô năm 1983 tại vùng núi biên giới Preah Vihear. Đơn vị của chú đang hành quân cắt rừng để truy quét tàn quân địch. Rừng khộp mùa khô lá rụng xào xạc dưới chân, không gian im ắng đến rợn người.
Khục! – Một tiếng nổ chát chúa vang lên, hất tung chú ngã nhào ra đất. Tai chú ù đi, đất đá và khói thuốc súng mù mịt.
"Lúc đó chú không cảm thấy đau ngay đâu cháu ạ," Chú tôi bồi hồi nhớ lại. "Chú chỉ thấy người mình nhẹ bẫng, nhìn xuống thì... đôi chân đã không còn nguyên vẹn nữa. Chú vấp phải mìn lá (mìn KP2) của địch."
Đồng đội lập tức băng bó, cáng chú vượt qua hàng chục cây số đường rừng để về tuyến sau cấp cứu. Chú giữ được mạng sống, nhưng vĩnh viễn mất đi đôi chân từ ngang đùi.
Ngày xuất ngũ trở về quê hương với chiếc ba lô con cóc và đôi nạng gỗ, chú phải đối mặt với một cuộc chiến mới: cuộc chiến chống lại sự mặc cảm và những cơn đau nhức nhối mỗi khi trái gió trở trời do vết thương cũ tái phát. Thế nhưng, phẩm chất của anh bộ đội Cụ Hồ không cho phép chú gục ngã.
Chú học cách đi lại trên đôi nạng gỗ, để không trở thành gánh nặng cho gia đình. Có lần tôi hỏi chú: "Chú có bao giờ hối hận vì đã đi Campuchia và mất đi đôi chân không?"
Chú cười, nụ cười hiền hậu nhưng đầy kiêu hãnh:
"Hối hận sao được cháu? Nếu ngày đó ai cũng sợ mất chân, sợ hy sinh mà không đi, thì biên giới nước mình sao yên bình, và hàng triệu người dân Campuchia sao thoát khỏi cảnh diệt vong? Chú mất đôi chân, nhưng đồng đội của chú nhiều người đã mãi mãi nằm lại ở tuổi hai mươi. Chú được sống để trở về, thấy đất nước hòa bình, thế là chú đã may mắn hơn họ rất nhiều rồi.
Câu chuyện của chú tôi – người lính chiến trường K năm ấy – là một mảnh ghép trong bức tranh đầy máu và hoa của lịch sử dân tộc. Đôi chân của chú đã gửi lại đất bạn, nhưng những bước chân vô hình của chú và thế hệ cha anh năm ấy đã góp phần hồi sinh một đất nước Chùa Tháp từ tro tàn, đồng thời giữ vững chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Mỗi khi nhìn vào chiếc xe lăn của chú, tôi lại tự nhắc nhở bản thân về cái giá của hòa bình ngày hôm nay: Nó được đổi bằng xương máu, bằng tuổi trẻ và bằng cả những phần thân thể đã gửi lại nơi xa xôi.



