NHÂN DÂN MÌNH CÒN NGHÈO, LÃNG PHÍ LÀ CÓ LỖI VỚI DÂN
Cuối năm 1965, sau chiến thắng xuất sắc tại làng 14, Dầu Tiếng, Trung đoàn 1, Sư đoàn 9 nhận lệnh rút về căn cứ Dương Minh Châu, đứng chân dọc hai bờ sông Sài Gòn. Đại đội 12 của chúng tôi đóng quân tại bến Nha Thức, trong khu rừng già dưới chân núi Cậu.
Chiều 25-12-1965, Đại đội trưởng thông báo có thủ trưởng cấp trên đến thăm. Chúng tôi tập trung tại hội trường dã chiến. Một đoàn cán bộ xuất hiện, đi đầu là đồng chí Hoàng Thế Thiện - Phó chính ủy Sư đoàn. Bên cạnh ông là một người đàn ông dáng rắn rỏi, nước da ngăm, mắt sáng, mặc bộ bà ba xanh, đội mũ nan, đi dép râu. Đoàn không đi theo đường chính mà men lối mòn thẳng vào đơn vị.
Khi Đại đội trưởng báo cáo đơn vị đã tập trung, người mặc bà ba bước lên, tự giới thiệu ngắn gọn:
- Tôi là Sáu Di, hôm nay thay mặt Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền đến thăm các đồng chí.
Cách nói dung dị khiến toàn đơn vị lập tức thấy gần gũi. Ông bắt đầu bằng những câu hỏi tưởng như rất đời thường: Tuổi tác, quê quán, ai đã lập gia đình. Hầu hết chúng tôi đều mười chín đôi mươi, xuất thân chủ yếu từ đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ. Ông gật đầu:
- Đại đội toàn thanh niên, sức trẻ như vậy là rất quý cho chiến trường.
Sau vài câu hỏi về chính trị, kỹ thuật quân sự, ông bất ngờ kiểm tra kiến thức mà chúng tôi đã học. Chiến sĩ trả lời bài bản về “10 bài học cách mạng Việt Nam”, “ngũ đại kỹ thuật”, về các con sông lớn từ Bắc vào Nam. Mỗi câu trả lời đều được ông kể rộng hơn, giải thích sinh động, gợi mở suy nghĩ. Khi hỏi về vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất, tôi mạnh dạn trả lời “Quang Trung”, ông gật đầu liên tiếp, rồi kể rành rọt trận Ngọc Hồi - Đống Đa như một bài học lịch sử sống động.
Giọng ông trầm ấm, chân tình:
- Các đồng chí ăn có đủ no không? Có thiếu muối không? Lương thực không thiếu nhưng tôi đi đường vẫn thấy nơi này nơi kia còn lãng phí cơm vắt, muối rơi vãi. Nhân dân mình còn nghèo, lãng phí là có lỗi với dân.
Ông nhắc nhở từ chuyện nhỏ nhất như giữ gìn bộ quần áo, cái võng, tấm màn đến chuyện lớn hơn là tinh thần rèn luyện sau mỗi trận đánh.
Trước khi rời đi, ông động viên:
- Tôi rất hài lòng về tinh thần học tập và chiến đấu của các đồng chí. Hãy giữ vững truyền thống và lập nhiều chiến công hơn nữa.
Cả Đại đội vỗ tay không ngớt. Không ai nghĩ vị thủ trưởng gần gũi ấy lại là nhân vật đặc biệt. Vài ngày sau, đại đội trưởng thông báo: “Đồng chí Sáu Di chính là Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bí thư Trung ương Cục, Chính ủy Quân giải phóng miền Nam”.
Chúng tôi bàng hoàng. Một vị Đại tướng đứng đầu chính trị của toàn quân lại vượt bom đạn, đến tận đơn vị giữa tầm pháo địch, chỉ để hỏi han từng chiến sĩ, dạy từng bài học nhỏ.
Trong suốt cuộc đời binh nghiệp, tôi chỉ gặp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh một lần. Nhưng hình ảnh ông giản dị, gần gũi, sâu sắc vẫn luôn in đậm trong ký ức. Một vị tướng “đến với bộ đội như người anh cả”, để lại những bài học về nhân cách, tình người và trách nhiệm mà chúng tôi mang theo suốt chặng đường chiến đấu.
(Theo lời kể của Đại tướng Lê Văn Dũng)Cuối năm 1965, sau chiến thắng xuất sắc tại làng 14, Dầu Tiếng, Trung đoàn 1, Sư đoàn 9 nhận lệnh rút về căn cứ Dương Minh Châu, đứng chân dọc hai bờ sông Sài Gòn. Đại đội 12 của chúng tôi đóng quân tại bến Nha Thức, trong khu rừng già dưới chân núi Cậu.
Chiều 25-12-1965, Đại đội trưởng thông báo có thủ trưởng cấp trên đến thăm. Chúng tôi tập trung tại hội trường dã chiến. Một đoàn cán bộ xuất hiện, đi đầu là đồng chí Hoàng Thế Thiện - Phó chính ủy Sư đoàn. Bên cạnh ông là một người đàn ông dáng rắn rỏi, nước da ngăm, mắt sáng, mặc bộ bà ba xanh, đội mũ nan, đi dép râu. Đoàn không đi theo đường chính mà men lối mòn thẳng vào đơn vị.
Khi Đại đội trưởng báo cáo đơn vị đã tập trung, người mặc bà ba bước lên, tự giới thiệu ngắn gọn:
- Tôi là Sáu Di, hôm nay thay mặt Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền đến thăm các đồng chí.
Cách nói dung dị khiến toàn đơn vị lập tức thấy gần gũi. Ông bắt đầu bằng những câu hỏi tưởng như rất đời thường: Tuổi tác, quê quán, ai đã lập gia đình. Hầu hết chúng tôi đều mười chín đôi mươi, xuất thân chủ yếu từ đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ. Ông gật đầu:
- Đại đội toàn thanh niên, sức trẻ như vậy là rất quý cho chiến trường.
Sau vài câu hỏi về chính trị, kỹ thuật quân sự, ông bất ngờ kiểm tra kiến thức mà chúng tôi đã học. Chiến sĩ trả lời bài bản về “10 bài học cách mạng Việt Nam”, “ngũ đại kỹ thuật”, về các con sông lớn từ Bắc vào Nam. Mỗi câu trả lời đều được ông kể rộng hơn, giải thích sinh động, gợi mở suy nghĩ. Khi hỏi về vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất, tôi mạnh dạn trả lời “Quang Trung”, ông gật đầu liên tiếp, rồi kể rành rọt trận Ngọc Hồi - Đống Đa như một bài học lịch sử sống động.
Giọng ông trầm ấm, chân tình:
- Các đồng chí ăn có đủ no không? Có thiếu muối không? Lương thực không thiếu nhưng tôi đi đường vẫn thấy nơi này nơi kia còn lãng phí cơm vắt, muối rơi vãi. Nhân dân mình còn nghèo, lãng phí là có lỗi với dân.
Ông nhắc nhở từ chuyện nhỏ nhất như giữ gìn bộ quần áo, cái võng, tấm màn đến chuyện lớn hơn là tinh thần rèn luyện sau mỗi trận đánh.
Trước khi rời đi, ông động viên:
- Tôi rất hài lòng về tinh thần học tập và chiến đấu của các đồng chí. Hãy giữ vững truyền thống và lập nhiều chiến công hơn nữa.
Cả Đại đội vỗ tay không ngớt. Không ai nghĩ vị thủ trưởng gần gũi ấy lại là nhân vật đặc biệt. Vài ngày sau, đại đội trưởng thông báo: “Đồng chí Sáu Di chính là Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bí thư Trung ương Cục, Chính ủy Quân giải phóng miền Nam”.
Chúng tôi bàng hoàng. Một vị Đại tướng đứng đầu chính trị của toàn quân lại vượt bom đạn, đến tận đơn vị giữa tầm pháo địch, chỉ để hỏi han từng chiến sĩ, dạy từng bài học nhỏ.
Trong suốt cuộc đời binh nghiệp, tôi chỉ gặp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh một lần. Nhưng hình ảnh ông giản dị, gần gũi, sâu sắc vẫn luôn in đậm trong ký ức. Một vị tướng “đến với bộ đội như người anh cả”, để lại những bài học về nhân cách, tình người và trách nhiệm mà chúng tôi mang theo suốt chặng đường chiến đấu.
(Theo lời kể của Đại tướng Lê Văn Dũng)



