Anh hùng Lực lượng vũ trang

Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Long Thành

Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Long Thành

Đồng Nai02/07/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Long Thành là một huyện nằm ở phía Nam tỉnh Đồng Nai, có diện tích 431,01km2, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 60km, cách Biên Hòa 33km, cách Vũng Tàu 60km; phía Đông giáp huyện Trảng Bom, huyện Thống Nhất và huyện Cẩm Mỹ, Phía Tây giáp huyện Nhơn Trạch và Thành phố Hồ Chí Minh, phía Nam giáp thị xã Phú Mỹ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phía Bắc giáp thành phố Biên Hoà.

Long Thành là vùng đất có nhiều dấu vết của người tiền sử sinh sống. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều di chỉ, hiện vật chứng minh rằng người tiền sử là chủ nhân của các dụng cụ bằng đá ở Cái Vạn, Cái Lăng (thuộc xã Long Thọ) ấp Rạch Chiếc (thuộc xã Phước Tân), và một số nơi khác, có niên đại cách đây khoảng 3.000 đến 1.800 năm. Hiện vật văn hóa được hình dung qua kết quả khảo cổ, nhưng chủ nhân văn hóa chưa được lý giải cụ thể. Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn; đến thế kỷ XVI, xứ Đồng Nai vẫn là vùng đất tự nhiên hoang sơ. Từ đầu thể kỷ XVII mới có dấu hiệu người Việt đến sinh sống, làm ăn ở các làng cổ ven sông Thị Vải và sông Đồng Nai.

Theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Kính (tức Nguyễn Hữu Cảnh) vào làm Kinh lược sứ vùng đất phương Nam, lấy đất Đồng Nai thành lập phủ Gia Định gồm huyện Tân Bình (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) và huyện Phước Long. Lúc đó, Long Thành là một trong 4 tổng thuộc huyện Phước Long (cùng các tổng khác: Phước Chính, Bình An, Phước An). Địa danh Long Thành chính thức có từ đó.

Năm 1808, dinh Trấn Biên được đổi thành trấn Biên Hòa, huyện Phước Long nâng thành phủ Phước Long, các tổng thuộc phủ Phước Long nâng thành huyện. Tên huyện Long Thành bắt đầu từ đây. Huyện Long Thành lúc bấy giờ gồm bốn tổng Long Vĩnh Thượng, Long Vĩnh Hạ (tức tổng Bình Lâm), Thành Tuy Thượng, Thành Tuy Hạ. Đến năm 1820, huyện Long Thành còn lại hai tổng Long Vĩnh và Thành Tuy với 63 thôn, phường. Năm 1836, vua Minh Mạng cho lập địa bạ các tỉnh Nam Bộ, huyện Long Thành gồm có 4 tổng Long Vĩnh Thượng, Long Vĩnh Hạ, Thành Tuy Thượng, Thành Tuy Hạ với 53 thôn, ấp, xã.

Năm 1837, tỉnh Biên Hòa đặt thêm phủ Phước Tuy thì huyện Long Thành thuộc phủ Phước Tuy. Năm 1863, sau khi đánh chiếm Biên Hòa và 3 tỉnh miền Đông, thực dân Pháp giữ lại các đơn vị hành chính của nhà Nguyễn. Theo đó huyện Long Thành gồm 4 tổng, 58 làng, xã . Năm 1867, tỉnh Biên Hòa được chia làm 5 sở Tham biện, trong đó có sở Tham biện Long Thành gồm 5 tổng Việt, 5 tổng Thượng (tức tổng gồm người dân tộc thiểu số), 105 xã thôn.

Thời chế độ Việt Nam Cộng hòa, ngày 9/9/1960, tách một phần đất quận Long Thành, lập quận Nhơn Trạch. Quận Long Thành gồm 8 xã: Tam Phước, Tam An, An Lợi, Phước Lộc, Thái Thiện, Long Phước, Long An, Lộc An; quận lị là Phước Lộc. Cuối năm 1973 chính quyền Sài Gòn bắt đầu cho chuyển một số cơ sở của Trường Bộ binh Thủ Đức đến căn cứ huấn luyện mới ở Long Thành. Long Thành biến thành một căn cứ quân sự lớn trong lúc chiến tranh Việt Nam. Công việc di chuyển trường đến năm 1974 thì hoàn tất, nhưng được hơn một năm thì Việt Nam Cộng hòa sụp đổ và trường bị giải thể.

Với chính quyền cách mạng, từ 1945-1951, huyện Long Thành thuộc tỉnh Biên Hòa, tháng 5/1951 đến tháng 7/1954, thuộc tỉnh Bà Rịa - Chợ Lớn. Để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo phong trào kháng chiến địa phương, tổ chức hành chính và chiến trường huyện Long Thành nhiều lần được điều chỉnh: Từ 1954-1960 huyện Long Thành (bao gồm cả Nhơn Trạch) thuộc tỉnh Biên Hòa. Cuối năm 1960, huyện Long Thành được tách làm hai huyện Long Thành và Nhơn Trạch, huyện Long Thành gồm 1 thị trấn và 17 xã: Long Hưng, An Hòa, Phước Tân, Tam Phước, An Lợi, Tam An, Phước Nguyên, Siph (Long Đức), Phước Lộc (thị trấn), Long An, Long Phước, Phước Thái, Bàu Cạn, Tân Hiệp, Lộc An, Bình Sơn, Cẩm Đường. Đến tháng 10/1966, hai huyện Long Thành và Nhơn Trạch sáp nhập thành huyện Long Thành thuộc tỉnh Bà Biên. Từ tháng 10/1967 đến tháng 4/1971, huyện Long Thành thuộc Phân khu 4. Từ tháng 5/1971 đến tháng 8/1972, huyện Long Thành thuộc về phân khu Bà Rịa. Sau tháng 8/1972, huyện Long Thành lại tách ra hai huyện Long Thành và Nhơn Trạch thuộc tỉnh Biên Hòa. Tháng 4/1975, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng hai huyện Long Thành và Nhơn Trạch lại sáp nhập thành huyện Long Thành thuộc tỉnh Biên Hòa.

Tháng 1/1976, huyện Long Thành (bao gồm cả huyện Nhơn Trạch) thuộc tỉnh Đồng Nai vừa thành lập. Ngày 23 tháng 6 năm 1994, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 51/1994/NĐ- CP chia huyện Long Thành thành 2 huyện là Long Thành và Nhơn Trạch. Huyện Long Thành gồm thị trấn Long Thành và 18 xã.

Ngày 29 tháng 8 năm 1994, chia xã Bình Sơn thành 2 xã: Bình An và Bình Sơn; chia xã Phước Thái thành 2 xã: Phước Bình và Phước Thái; chia lại xã Hòa Hưng thành 2 xã cũ: An Hòa và Long Hưng. Ngày 5 tháng 2 năm 2010, theo Nghị quyết số 05/NQ-CP, điều chỉnh toàn bộ 10.899,27 hécta diện tích tự nhiên và 92.796 nhân khẩu của các xã An Hòa, Long Hưng, Phước Tân, Tam Phước của huyện Long Thành vào thành phố Biên Hoà quản lý.

Hiện nay , diện tích tự nhiên của huyện Long Thành có 43.101 héta, dân số hơn 200.000 người; 15 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm thị trấn Long Thành và 14 xã: An Phước, Bàu Cạn, Bình An, Bình Sơn, Cẩm Đường, Lộc An, Long An, Long Đức, Long Phước, Phước Bình, Phước Thái, Suối Trầu, Tam An, Tân Hiệp.

Huyện Long Thành có những lợi thế về mạng lưới giao thông trên địa bàn huyện gồm đường bộ - đường thủy - hàng không. Hệ thống đường giao thông quốc gia gồm các tuyến đường cao tốc đi qua địa bàn Long Thành gồm: tuyến đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu; tuyến đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây; tuyến đường cao tốc Bến Lức - Nhơn Trạch - Long Thành. Quốc lộ 51B được nâng cấp mở rộng đạt tiêu chuẩn cấp II, chuyển giao quốc lộ 51A đoạn ngang qua thị trấn Long Thành cho địa phương quản lý. Ngoài ra, các tuyến đường nội tỉnh đi qua Long Thành trở thành huyết mạch ở ở địa bàn cũng được đầu tư trọng điểm, gồm: Đường 769; tỉnh lộ Cụm cảng hàng không quốc tế Long Thành - Cẩm Mỹ, nối với các tỉnh Nam Trung Bộ; đường 25B từ Quốc lộ 51 đi Nhơn Trạch; xây dựng tuyến đường tỉnh ở khu vực kho trung chuyển miền Đông đi Biên Hòa. Hiện đang thực hiện dự án quốc gia xây dựng cụm Cảng hàng không Quốc tế Long Thành với quy mô diện tích 5.000 hécta, công suất 80-100 triệu lượt hành khách/năm, đường 25C từ cụm cảng hàng không Quốc tế Long Thành đi Nhơn Trạch sẽ được hoàn thành. Long Thành còn có lợi thế đường sông, các bến tàu trên sông Đồng Nai, bến tàu Gò Dầu trên sông Thị Vải, bến tàu Tam An... đang phát huy vai trò cầu nối giao thông đường thủy và điểm nhấn du lịch sông nước trên địa bàn.

Huyện Long Thành có diện tích canh tác chiếm tỉ lệ 25%, đó là nguồn lực kinh tế, có ưu thế về nông nghiệp với thế mạnh về vườn, ruộng rẫy, chăn nuôi bò sữa. Từ năm 1990 đến nay, chuyển sang phát triển ưu thế về công nghiệp, dịch vụ. Có 7 khu công nghiệp được Chính phủ phê duyệt, đã và đang vận hành hiệu quả, gồm: Khu công nghiệp An Phước 201 hécta; khu công nghiệp Gò Dầu: 210 hécta; khu công nghiệp Long Đức: 580 hécta; khu công nghiệp Long Thành: 488 hécta; khu công nghiệp Lộc An - Bình Sơn: 498 hécta; khu công nghiệp Phước Bình: 640 hécta; khu công nghiệp công nghệ cao Amata Long Thành: 410 hécta. Ở địa bàn Long Thành hiện có chi nhánh của 20 ngân hàng thương mại, 2 quỹ tín dụng nhân dân, nhiều dịch vụ thanh toán xuất nhập khẩu đối với các doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài. Thị trường bất động sản sôi động. Dịch vụ du lịch, trạm dừng chân ven quốc lộ thu hút khách. Hệ thống chùa thanh lịch, di tích văn hóa là tiềm năng của du lịch tâm linh. Các dạng bảo hiểm có nhiều cơ hội phát triển. Nhiều khu đô thị mới đã qui hoạch khá hòan chỉnh, đang chờ cất cánh cùng sân bay Quốc tế Long Thành.

Về văn hóa, huyện Long Thành có làng cổ Bến Gỗ còn giữ được nhiều bản sắc cổ truyền, Lăng mộ lãnh binh Nguyễn Đức Ứng là di tích quốc gia vừa được trùng tu, di tích quốc gia đình An Hòa với kiến trúc độc đáo; nhà thờ Bến Gỗ, nhân chứng của tín ngưỡng công giáo từ năm 1932. Bến Gỗ còn thể hiện được truyền thống đua thuyền từ đầu thế kỷ XIX.

Về tín ngưỡng tôn giáo, Long Thành là địa bàn đa dạng văn hóa, tín ngưỡng, nơi chung sống của nhiều cộng đồng dân cư, nhiều tôn giáo, dân tộc. Đa số theo tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên, mỗi làng xưa đều có thiết chế đình miễu theo truyền thống người Việt; các tôn giáo Phật giáo, Công giáo, đạo Cao Đài tịnh độ cư sĩ, Tin Lành ... đến với Long Thành căn bản bằng lòng nhân ái, khuyến thiện, yêu chuộng hòa bình, chung lòng xây dựng và bảo vệ quê hương. Ngoài cư dân người Việt, ở Long Thành còn có một số dân tộc ít người, như người Chơ-ro ở ấp Phước Bình, xã Phước Thái, người Nùng ở Sa Cá và người Chăm ở ấp Chùa (thuộc xã Bình Sơn).

Huyện Long Thành giàu thành tích kháng chiến. Khi thực dân Pháp đánh chiếm Biên Hòa, Long Thành là trận địa chốt chặn của lãnh binh Nguyễn Đức Ứng. Ngày 17 tháng 12 năm 1861, trước sức tấn công của quân Pháp vào thành Biên Hòa, đại quân của triều đình bỏ chạy. Một ngày sau khi khởi chiến, quân Pháp chiếm thành Biên Hòa. Lãnh binh Nguyễn Đức Ứng chỉ huy đoàn quân tổ chức tuyến phòng thủ Ký Giang - Long Thành, bố trí lực lượng ngăn chặn bước tiến của quân Pháp từ hướng Biên Hòa xuống Bà Rịa; sáng ngày 21 tháng 12 năm 1861, bắt đầu trận chiến ác liệt với quân Pháp, thế yếu, lãnh binh Nguyễn Đức Ứng bị thương nặng, dân dã cứu chữa không thành, đã hy sinh cùng 27 nghĩa binh ngày 26 tháng 12 năm 1861. Tiếp theo, Long Thành là địa bàn hoạt động của nghĩa quân Trương Định cho đến sau khi Trương Định hy sinh. Trương Định mất, các hội kín tiếp tục gây cho Pháp nhiều khó khăn, tiêu biểu là thành tích diệt ác gian Trần Bá Hựu năm 1881 của nhóm nhà sư Trần Văn Tấn.

Từ năm 1908 Long Thành xuất hiện các tổ chức hội kín gọi là “Thiên Địa Hội” với mục tiêu tập hợp lực lượng chống Pháp, tổ chức bí mật ở hầu hết các xã chia nhiều cụm (cụm Phước Thái, Long An, Long Phước; cụm An Hòa Hưng, Phước Tân, Tam Phước, Tam An, An Lợi; cụm Phước Lộc, Phước Nguyên, Siph, Lộc An, Bình Sơn). Ngày 12/1/1916, lực lượng Thiên Địa Hội ở Long Thành tham gia phá khám Sài Gòn, bị thất bại, các lãnh đạo (ông Tiều, ông Quý, ông Dệch) bị địch bắt, giặc Pháp đàn áp, phong trào suy yếu dần rồi tan rã.

Đến năm 1917, thực dân Pháp tiến hành tổ chức “Hiệp hội trồng tỉa Đông Dương” để khai thác cao su, thành lập đồn điền cao su ở khu đất đỏ Bình Sơn, An Viễng và lấy công nhân từ miền Bắc, miền Trung vào làm phu công tra; tiếp theo đó là là một số sở cao su khác ở An Lợi, An Hòa, Phước Thái. Chủ Tây và chủ ta áp bức bóc lột công nhân, xuất hiện phong trào đấu tranh của công nhân cao su.

Tháng 5/1936, Đảng Cộng sản Pháp giành thắng lợi trong phong trào Mặt trận Bình dân Pháp. Nắm thời cơ, Đảng Cộng sản Đông Dương phát động phong trào Mặt trận dân chủ Đông Dương. Xứ ủy Nam Bộ đã chỉ đạo thành lập các Ủy ban hành động ở các tỉnh thành. Nguyễn Văn Nghĩa, Chủ tịch Ủy ban hành động tỉnh Biên Hòa phân công các đảng viên về Long Thành, chú trọng khu vực thị trấn và đồn điền cao su để tuyên truyền yêu nước, đấu tranh đòi dân chủ; theo đó, các đồng chí Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Nghĩa, Hồ Văn Đại, Trương Văn Bang, Huỳnh Văn Lũy, Nguyễn Văn Ký về hoạt động ở địa bàn Long Thành. Ánh sáng các mạng, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu được gieo mầm và nở hoa trong quần chúng nhân dân, nhất là công nhân các đồn điền. Từ những năm 1936, nhân dân các xã Phước Lộc, Long An, Tam An, Tam Phước đã bắt đầu tiếp thu tư tưởng cách mạng, tham gia mít-tinh, biểu tình chống Pháp; đến năm 1937 bắt đầu có cơ sở Đảng.

Sau khởi nghĩa Nam kỳ ngày 23/11/1940, giặc Pháp đàn áp mạnh, nhiều lãnh đạo cách mạng bị bắt, phong trào khắp nơi suy thoái, nhưng phong trào công nhân ở Biên Hòa vẫn phát triển. Công nhân Long Thành là nơi nuôi giấu cán bộ tốt nhất, thuận lợi cho việc khôi phục phong trào.Tháng 9/1942, 200 công nhân sở cao su Bình Sơn đấu tranh chống làm thêm giờ, đi bộ ra quận Long Thành, chủ sở cho người đàn áp không xong, buộc phải xuống nước, nhượng bộ.

Tháng 3/1943, Xứ ủy Nam Bộ thành lập Ban Cán sự Cao su miền Đông và cử đồng chí Trịnh Văn Dục (Ba Dục) về hoạt động ở Long Thành, với nhiệm vụ là đi sâu xây dựng phong trào công nhân. Trong một thời gian ngắn, cơ sở cách mạng ở Long Thành phát triển, Xứ ủy quyết định thành lập Chi bộ Đảng do đồng chí Trịnh Xuân Dục làm Bí thư, có hai đồng chí Vũ Hồng Phô và Lý Trần Hoan hỗ trợ. Đây là Chi bộ Đảng đầu tiên ở Long Thành. Sau khi thành lập chi bộ, phong trào đấu tranh cách mạng ở Long Thành được lãnh đạo, phát triển thành cao trào; tổ chức nhiều hoạt động thiết thực được nhân dân ủng hộ, như Hội tiết kiệm trong sở cao su, có đến 17 tổ với 265 hội viên tham gia. Đây là tổ chức có ý nghĩa nhân văn, làm tăng uy tín của cán bộ đảng viên, là nòng cốt để xây dựng các cơ sở cách mạng trong vùng.

Đến tháng 5/1945, lực lượng Thanh niên Tiền Phong được tổ chức ở Long Thành, phát triển rất mạnh. Ngày 15/8/1945 Nhật đầu hàng đồng minh, thời cơ đã đến. Ngày 21/8/1945, tại Long Thành, đồng chí Ba Dục giao nhiệm vụ chi bộ và các đoàn thể chuẩn bị chờ lệnh khởi nghĩa. 6 giờ sáng 24/8/1945, các đội xung phong nòng cốt là Thanh niên Tiền Phong của Chi bộ Bình Sơn, Long Thành kéo ra quận, làm chủ các tuyến đường, đến 10 giờ, cùng các lực lượng quần chúng khắp nơi kéo về quận với khí thể sôi nổi, buộc quận Hội bàn giao chính quyền, đồng chí Ba Dục tuyên bố chính quyền Long Thành về tay nhân dân. Ngay trong ngày 24/8/1945, một cuộc mít- tinh với 3.000 ngàn người tham dự được tổ chức khí thế, Ủy ban cách mạng lâm thời ra mắt đồng bào: Đồng chí Trịnh Văn Dục làm Chủ tịch, đồng chí Võ Văn Truyện là Phó chủ tịch; Huyện ủy Long Thành được thành lập, đồng chí Trịnh Xuân Dục làm Bí thư, đồng chí vũ Hồng Phô là Phó Bí thư. Cách mạng tháng Tám 1945 ở Long Thành diễn ra nhanh gọn, thắng lợi hoàn toàn, sớm hơn ở tỉnh 1 ngày. Hôm sau, lực lượng quần chúng Long Thành được tổ chức thành đội ngũ mạnh mẽ, tham gia giành chính quyền tỉnh ở Biên Hòa.

Cách mạng tháng Tám thành công chấm dứt 84 năm nô lệ tủi nhục của người dân mất nước dưới ách thực dân nửa phong kiến, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc nói chung, nhân dân Long Thành nói riêng. Được hưởng không khí độc lập tự do chưa tròn tháng, quân dân Long Thành cùng Nam Bộ phải bước và cuộc chiến đấu thực dân Pháp tái chiếm Việt Nam để bảo vệ chính quyền non trẻ vừa mới giành lại được. Ngay sau khi giành được chính quyền, Quận ủy Long Thành, Ủy ban cách mạng lâm thời quận triển khai ngay các nhiệm vụ chính trị, đặc biệt sáu nhiệm vụ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố: Diệt giặc dốt (văn hóa giáo dục), giặc đói (kinh tế đời sống), giặc ngoại xâm (lực lượng vũ trang). Đến cuối tháng 9/1945, lập xong các đoàn thể ở các xã, thành lập lực lượng vũ trang để sẵn sàng kháng chiến.

Trong 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng bộ và quân dân Long Thành chịu nhiều gian khổ, hy sinh, tạo được nhiều chiến công oanh liệt. Long Thành được xem là một trong những đơn vị sớm tổ chức kháng chiến chống tái xâm lược của thực dân Pháp, lập nhiều kỳ tích. Nhiều khóa huấn luyện vũ trang đầu tiên tổ chức tại Trường Quân chính Long Thành (tháng 11 năm 1945). Thành lập đội “Cộng hòa vệ binh” đầu tiên với 11 khẩu súng trường thu được sau khởi nghĩa. Tổ chức phục kích đánh giặc Pháp đầu tiên ngày 20/9/1945 tại Thành Tuy Hạ. Ngày 28/10/1945, dân quân Tam Phước, Phước Tân chặn đánh đoàn xe của Anh, Pháp tại dốc 47, giặc bị cháy 1 xe, chết một số tên, khiến phải bỏ dở cuộc hành quân. Tổ chức thành công, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa I ngày 6/1/1946 tại Long Thành với hơn 90% cử tri đi bầu. Tổ chức chặn đánh, đẩy lùi các cuộc phối hợp càn quét qui mô lớn của giặc Pháp vào cuối tháng 1/1946 (dịp Tết Mậu Tý). Bộ đội cùng nhân dân bao vây, chặn đánh, diệt gọn một đại đội lính Âu Phi và giặc Pháp tại trận đánh cầu Lò Rèn (nay thuộc xã Long Thọ) ngày 9/3/1946. Sau thảm bại trận cầu Lò Rèn, giặc Pháp tăng cường đánh phá Long Thành ác liệt, máy bay thả bom và phi pháo thảm sát đồng bào, làm chết hàng chục người, phá sập hàng trăm ngôi nhà, Nhiều cuộc càn quét liên tục, thực hiện phương châm tìm diệt “giết sạch, phá sạch, đốt sạch”, gây nhiều tổn thất. Trong vùng cao su, bọn chủ sở trở lại. Ở mỗi sở mọc lên một đồn lính có từ một tiểu đội đến một trung đội Pháp. Các chòi, rẫy của công nhân trong rừng An Viễng - Bình Sơn bị đốt phá. Công nhân bị lùa về sở bắt khai thác mủ. Người nào không về bị bắn chết. Các khu ủy Thực hiện chủ trương “bất hợp tác với kẻ thù”, vận động nhân dân dời sâu vào vùng tự do xây dựng xã, ấp chiến đấu; đồng bào bớt tổn thất, giặc mất chỗ dựa vào dân. Theo chủ trương này, hàng ngàn hộ dân đã di dời, lập 15 làng kháng chiến, thi đua sản xuất để ủng hộ kháng chiến, như ở Bàu Lùng, ở xã Tam Phước, Tam An. Bộ đội giúp dân làng kháng chiến vượt khó vì khan hiếm nước, thiếu lương thực, hỗ trợ đồng bào tổ chức lượng lượng đánh giặc giữ làng.

Trong vòng tháng 4, các lực lượng vũ trang phối hợp đánh địch nhiều trận ở Phước Nguyên, Phước Long, Phước Tân, Thái Thiện, diệt 2 xe cơ giới, hai trung đội Pháp, bắt sống hai sĩ quan Anh và 12 tên hội tề cũ rắp tâm đầu hàng chỉ điểm cho địch. Cuối tháng 4/1946, Chi đội 7 mưu trí đánh chiến bót Tam Phước. Tháng 6 năm 1946, bức giặc Pháp phải rút khỏi bót Phước An, quân giải phóng làm chủ các vùng giải phóng. Tháng 9/1946, Chi đội 6 và giải phóng quân khu 4 đánh nhiều trận trên đường 15 diệt 8 xe quân sự và 2 trung đội Âu Phi. Đêm 30/9/1946, chỉ trong một đêm, lực lượng nổi dậy giải tán toàn bộ ban hội tề ở 28 xã, làm lung lay, tan rã cơ sở của địch trong toàn huyện, giặc Pháp phải rút một loạt đồn bót ở Ông Kèo, Thái Thiện, Bà Ký, Phước Lý, Phước Thành.

Giặc Pháp co cụm, quân dân Long Thành mở rộng vùng giải phóng, củng cố lực lượng. Ủy ban nhân dân quận đổi thành Ủy ban hành chính kháng chiến huyện. Tự vệ chiến đấu quân đổi thành du kích xã. Thành lập 4 Ban công tác liên thôn. Giải phóng quân Long Thành trở thành Đại đội C của Chi đội 10 Biên Hòa gồm 3 trung đội do đồng chí Lương Văn Nho làm Đại đội trưởng.

Đến ngày 19/12/1946, khi toàn quốc bước vào kháng chiến chống thực dân Pháp theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Long Thành cùng Nam Bộ đã có một năm trưởng thành về mọi mặt. Từ năm 1947, Long Thành cùng cả nước thực hiện cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện. Bước đầu, vừa xây dựng vừa phát triển chiến tranh du kích. Ủy ban hành chính kháng chiến huyện chỉ đạo xây dựng các khu căn cứ ở Phước An, Bà Ký, Thái Thiện,Tam Phước, Tam An; xây dựng phong trào kháng chiến toàn diện ở cơ sở, nhất là trong công nhân cao su; khởi động các phong trào phá hủy các công trình kinh tế, quân sự, giao thông của giặc.

Ngày 5/5/1947 tại chiến khu Phước An, Tỉnh ủy Biên Hòa quyết định thành lập Đảng bộ huyện Long Thành, chỉ định đồng chí Vũ Hồng (tức Vũ Hồng Phô) làm Bí thư Huyện ủy, thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến trên địa bàn huyện; một tháng sau, Huyện ủy Long Thành thành lập 4 chi bộ Đảng ở cơ sở, kết nạp 50 đảng viên mới. Cũng trong tháng 6/1947, Huyện ủy mới thành lập đã chỉ đạo thực hiện thành công cuộc chống càn qui mô lớn của địch vào các căn cứ chiến khu, nhất là việc cắm cọc ngăn tàu giặc ở Phước An. Ngày 14/7/1947, Đại đội C phối hợp liên thôn 11 tạo nên chiến thắng Bàu Cá. Tháng 8/1947, tập kích tiêu diệt đồn Hêlêna bảo vệ dân kháng chiến ở Bàu Lùng; kết họp nội tuyến đột nhập vào hang ổ địch đánh bót Bến Gỗ. Tổ chức kỷ niệm 2 năm ngày Quốc khánh 2/9/1945 đồng bộ ở các vùng kháng chiến với khí thế mạnh mẽ vươn lên tiến công địch. Tháng 12/1947, thực hiện chủ chương thống nhất chỉ huy quân đội và xây dựng 3 thứ quân, hệ thống Ban công tác liên thôn giải thể, họp nhất 4 Ban công tác liên thôn thành lập Quận đội bộ dân quân huyện, các đội du kích liên thôn họp thành đội du kích huyện, các ban công tác xã được thay bằng ban chỉ huy xã đội, công tác tình báo được chú trọng.

Từ năm 1948, Long Thành phát triển cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện. Mở đầu bằng Đại hội Đảng bộ huyện lần đầu tiên, tổ chức tại chiến khu Phước An tháng 1/1948. Sau đại hội, Huyện ủy tập trung chỉ đạo phát triển phong trào du kích, củng cố, xây dựng các chiến khu theo hướng toàn diện, thống nhất lãnh đạo các lực lượng huyện và phối hợp chặt chẽ với các lực lượng tỉnh. Dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy mới được bầu cử, du kích và dân quân ở các khu kháng chiến thể hiện bản lĩnh, trưởng thành trong kháng chiến, tổ chức ngăn chặn, đánh bại nhiều cuộc càn lớn của giặc, như ở Long Điềm, Long An, Thái Thiện, Tuy Long, Tập Phước. Liên đoàn cao su huyện Long Thành đã được thành lập, lãnh đạo các cuộc chống phá âm mưu bóc lột công nhân của giới chủ; đêm 22/1/1948, công nhân các sở An Viễng, Bình Sơn, Đất Đỏ đồng loạt phóng hỏa đốt đồn điền, công nhân kéo ra vùng kháng chiến, giặc đàn áp bắn chết 6 người, cuộc đấu tranh kiên trì kéo dài trong nhiều năm. Các công tác khác: Phá cầu, làm chủ đường 15; diệt ác trừ gian, thanh trừng nội gián; hoạt động của hội đồng canh nông, hũ gạo nuôi quân, các tuần lễ đồng, tuần lễ kim khí; ngày hội tòng quân, bình dân học vụ, chống mù chữ... được lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt, tạo khí thế thi đua ái quốc sôi nổi, góp phần xây dựng và phát triển kháng chiến toàn diện, toàn dân tham gia; gần như, mỗi làng kháng chiến là một trung tâm văn hóa kháng chiến.

Từ đầu năm 1950, cả nước thực hiện Chỉ thị “chuẩn bị cho tổng phản công” của Trung ương. Quân dân Long Thành bước vào một cuộc vận động lớn, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt: lương thực, hoạt động vũ trang, dân công, vũ khí, bố phòng trận địa, kế hoạch phối hợp tác chiến. Riêng về hoạt động vũ trang, du kích 2 xã Tam Phước, Tam An phối hợp với Đại đội Lam Sơn đánh thắng một trận có tiếng vang lớn, diệt tên Utini - Trưởng đồn Tam An khét tiếng hung ác. Trong đợt huy động cho tổng phản công đầu năm 1950, Long Thành đã đóng góp được một phần xứng đáng công sức, nhân lực, vật lực cho cuộc chiến đấu trên chiến trường chung của Biên Hòa.

Sau giai đoạn tổng phản công, từ đầu năm 1951, địch đánh phá quyết liệt để giành lại quyền kiểm soát địa bàn. Phong trào kháng chiến trong huyện gặp nhiều khó khăn. Nhiều vùng tự do rơi vào tay giặc. Tình hình chiến trường đòi hỏi phải bố trí và tổ chức lại. Huyện ủy chuyển hướng lãnh đạo, giai đoạn 1951 - 1954 tập trung chống lấn chiếm, khôi phục phong trào kháng chiến, tiến đến giành thắng lợi toàn diện góp phần vào thắng lợi chung.

Tháng 5/1951, Trung ương Cục miền Nam tổ chức lại chiến trường, tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một hợp thành tỉnh Thủ Biên; tỉnh Bà Rịa và Chợ Lớn sáp nhập thành tỉnh Bà Rịa-Chợ Lớn (thường gọi là Bà Chợ), huyện Long Thành thuộc tỉnh Bà Chợ. Tỉnh ủy Bà Chợ chỉ đạo: Long Thành là một địa bàn chiến lược, một vùng căn cứ, một chiến khu quan trọng trong vùng Sài Gòn - Chợ Lớn. Phong trào Long Thành, cơ sở Long Thành tốt, quần chúng tốt. Bằng giá nào cũng phải ổn định cho được chiến trường Long Thành để đảm bảo chỗ đứng của tỉnh. Tháng 7/1951, hội nghị Huyện ủy có một ý nghĩa rất quan trọng, đánh dấu một bước ngoặt của phong trào kháng chiến Long Thành, triển khai việc thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy Bà Chợ. Toàn huyện bám đất giữ làng, củng cố lực lượng, khôi phục phong trào, khắc phục khó khăn, nghiên cứu địch, kết hợp các mũi, phối hợp các lực lượng đánh địch, giành thắng lợi từng phần tiến đến thắng lợi toàn diện.

Bước sang năm 1952, tình hình có chuyển biến bất thường, chiến trường vừa bớt khó khăn thì lại thêm khó khăn mới do bão lụt Nhâm Thìn (tháng 10/1952). Nhờ có lực lượng vũ trang hỗ trợ bảo vệ tốt mùa màng, cuối năm1952, bão lụt đã qua, vùng lúa ở địa bàn Long Thành, Nhơn Trạch được mùa, đồng bào phấn khởi thu hoạch, có lúa đóng góp cho kháng chiến (khoảng 480 tấn), góp phần cho tỉnh cứu trợ.

Đầu năm 1952, các lực lượng phối hợp đánh trận làm nổ tung máy bay Moran, diệt 1tên quan năm Pháp và làm bị thương một quan năm khác, khiến kẻ thù tức tối, khiếp sợ; làm nức lòng quân dân kháng chiến, tạo niềm tin để đánh giặc và thắng giặc ở những trận tiếp theo. Cuối năm 1953, ở các vùng dồn dân đều có phong trào nhân dân đấu tranh đòi về làng cũ làm ăn. Nhiều lõm chính trị được hình thành. Từ cuối năm 1953, Long Thành cùng cả nước phối hợp chia lửa chiến trường để Trung ương mở chiến dịch Đông Xuân 1953-1954.

Ngày 7/4/1954, quân dân Long Thành đánh bại một cuộc càn lớn vào Phú Mỹ, Thái Thiện, diệt được tên ác ôn Suacot cao số, các tên khác co vòi. Từ đầu tháng 5/1954, trên chiến trường Long Thành cách mạng đã chuyển sang thế áp đảo địch. Ngày 7/5/1954, đúng lúc chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, Huyện ủy Long Thành chỉ đạo các lực lượng huyện tăng cường hoạt động vũ trang và tuyên truyền sâu vào các vùng địch tạm chiếm, đánh diệt bót Bà Trường. Ngày 1/8/1954, lệnh ngừng bắn theo Hiệp định Genève thực thi, Long Thành dừng ngay kế hoạch đánh 2 đồn Thái Thiện, Phước Thọ đã vạch xong từ tháng trước. Từ tháng 8/1954, thi hành hiệp định Genève, cán bộ, chiến sĩ Long Thành lần lượt chuyển sang vùng căn cứ Xuyên Phước Cơ (Bà Rịa) để tập kết ra Bắc, một bộ phận cán bộ, đảng viên từ huyện ủy viên trở xuống được chọn lọc ở lại.

Chín năm kháng chiến gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc. Đó là chín năm Đảng bộ, Chính quyền và quân dân huyện Long Thành đã thể hiện được ý chí quyết tâm chiến đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách có lúc tưởng chừng không vượt qua được. Trên một địa bàn chiến lược nhiều phức tạp, Đảng bộ Long Thành với những chủ trương đúng đắn, đã thống nhất được lực lượng vũ trang, phát triển cơ sở chính trị làm nòng cốt xây dựng bộ đội, du kích, phát triển được phong trào du kích chiến tranh; phát huy được sức mạnh nhân dân, đảm bảo một phần quan trọng hậu cần tại chỗ; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang tỉnh, khu. Điểm sáng là Đảng bộ, quân dân đã xây dựng thành công căn cứ kháng chiến với thế liên hoàn từ rừng Giồng xuống rừng Sác, đảm bảo thế đứng chân cho các lực lượng; xây dựng được khối đoàn kết quân dân chính, thống nhất ý chí và hành động...

Niềm vui của miền Nam không trọn vẹn. Với âm mưu xâm lược Việt Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta, đế quốc Mỹ đã ra sức phá hoại Hiệp định Genève. Tháng 7/1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam làm thủ tướng rồi lật đổ Bảo Đại lên Tổng thống, xây dựng bộ máy chính quyền thân Mỹ, thành lập quân đội tay sai, tiến hành khủng bố phong trào cách mạng miền Nam bằng nhiều thủ đoạn thâm độc. Nam Bộ phải bước vào cuộc kháng chiến mới gian khổ hơn.

Trong giai đoạn 1954 - 1975, quân dân Long Thành cùng Nam Bộ tiếp tục chịu đựng mất mát, hy sinh, hành cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược thay chân thực dân Pháp. Cuộc chiến đấu chia nhiều giai đoạn. Giai đoạn đầu 1954 - 1961, là giai đoạn đấu tranh chính trị, bước đầu xây dựng lại lực lượng vũ trang. Người dân Long Thành phải đương đầu với âm mưu, thủ đoạn thâm độc của Mỹ và tay sai. Nhiều người bị giết, bị bắt, bị tra tấn, tù đày (như như cai Hoàng, cai Ruệ, cai Tiền, cai Minh, xu Văn ở Chi bộ Bình Sơn). Một số bị ly gián, mua chuộc, lôi kéo vào con đường tội lỗi. Nhưng các chiến dịch tố cộng, diệt cộng khủng bố dân dân của địch không lung lạc được ý chí cách mạng của người Long Thành. Nhiều cán bộ đã bị rơi đầu trước máy chém lê khắp nơi của Diệm, nhưng một người ngã xuống, nhiều người đứng lên tiếp nối. Nhiều phong trào được nhen nhóm chống các trò mỵ dân của chế độ Sài Gòn tay sai. Ngày 2/12/1956, anh em tù chính trị nổi dậy phá khám Trung tâm Cải huấn Biên Hòa (Biên Hòa), hơn 100 người thoát về hướng Long Thành, được bà con Long Thành bảo bọc, trong đó có các đồng chí: Hai Phê, Hai Thông, Tám Phương, Ba Yển, Tư Phương, Sáu Bê...

Năm 1956, Lực lượng vũ trang Long Thành được lập lại, ban đầu có 40 cán bộ chiến sĩ do Ba Phú chỉ huy. Tháng 9/1957, ở Bình Sơn, phát triển được 4 đảng viên mới, thành lập được chi bộ, có đảng viên hoạt động đơn tuyến. Một số nơi như Bình Sơn, Tam Phước, Long Phước. thành lập Chi đoàn Thanh niên lao động.

Đầu năm 1959, Huyện ủy Long Thành chỉ đạo nhân dân đấu tranh chống việc xây dựng khu trù mật Hang Nai, cuối cùng, kế hoạch lập khu trù mật Hang Nai của địch phải bỏ dở. Ngày 31/10/1959, Trần Xuân Hà (Hà Tư, Tư Trần), Bí thư Huyện ủy ra đầu hàng địch, gây nhiều tổn thất cho phong trào cách mạng Long Thành. Gần 300 cán bộ đảng viên và cơ sở bị bắt, nhiều chi bộ, cơ sở bị đánh phá đến tan rã. Sự tàn bạo của kẻ thù đã làm tăng thêm sự phẫn nộ của nhân dân. Không có con đường nào khác, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Long Thành từ những ngày tháng đấu tranh chính trị chuyển lên vũ trang đánh địch.

Từ đầu năm 1960, phong trào cách mạng ở Long Thành chuyển thế đấu tranh vũ trang, giành quyền làm chủ. Tháng 7/1959, Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết 15 mở ra phong trào kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang đã tạo nên một niềm phấn khởi to lớn trong cán bộ, nhân dân. Do đứt liên lạc sau khủng bố 1959, giữa tháng 3/1960 Long Thành mới được quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết 15. Nghị quyết 15 được triển khai muộn, nhưng tinh thần Nghị quyết đã sớm đi vào phong trào. Địa bàn Long Thành được chia thành 4 vùng, vùng chia thành nhiều cụm, mỗi vùng có một lãnh đạo Huyện ủy được phân công phụ trách, có tổ chức Đảng lãnh đạo, có đảng viên làm hạt nhân, có các tổ chức nhân dân gây phong trào, có lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Mỗi vùng đều có kết hoạch kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, phối hợp các lực lượng vũ trang vùng, huyện, tỉnh để chiến đấu trên địa bàn. Huyện ủy còn ra chủ trương, biện pháp cụ thể: Vận động đồng bào cho con em tham gia lực lượng vũ trang; dựa vào quần chúng tốt, vận động những gia đình binh sĩ của địch trở về với cách mạng; thống kê tội ác của địch, trên cơ sở đó phát động quần chúng đứng lên đấu tranh; tung tin hù dọa, đồng thời thực hiện tiến công binh vận để làm rã đội ngũ của địch.

Bên cạnh những cuộc đấu tranh chính trị, diệt ác trừ gian thắng lợi, Huyện ủy chỉ đạo mở những đợt tấn công vào hang ổ địch. Đêm 19/10/1960 lực lượng huyện phối hợp xã tập kích đánh chốt dân vệ ở xã Long An. Một bộ phận đột kích vào nhà xã Vàng, diệt tên Hà ác ôn, thu 7 súng, phá rã hai tiểu đội dân vệ. Đầu tháng 11/1960, bao vây uy hiếp bót Bình Sơn để phá rã âm mưu càn quét, tìm diệt của địch vào Lòng Chảo. Quận trưởng Long Thành đành bỏ kế hoạch càn vào khu Lòng Chảo, vội vã điều một đại đội giải cứu Bình Sơn. Cùng thời gian đó, lực lượng vũ trang huyện bao vây đánh phá đồn Tam An, phá rã 2 chốt dân vệ ở Xóm Quán, Xóm Hố, Chùa Lớn, bắt và diệt 3 tên ác ôn.

Ở cả 4 vùng, mỗi vùng đều có những trận đánh thắng giòn giã, nhiều chiến công không kể xiết, góp phần vào thắng lợi chung.

Đầu tháng 7/1961 Trung ương Cục miền Nam quyết định tách tỉnh Thủ Biên ra thành hai đơn vị tỉnh Thủ Dầu Một và tỉnh Biên Hòa. Huyện Long Thành thuộc chỉ đạo của Tỉnh ủy Biên Hòa. Ngày 16/8/1961, gần 100 đồng bào xã Long An được chi bộ lãnh đạo tổ chức đấu tranh đòi địch không được bắn pháo bừa bãi vào xóm làng, bỏ lệnh giới nghiêm, cho dân vào cánh đồng Sở Hoàng sản xuất. Quận trưởng Long Thành cứng rắn, muốn đàn áp, nhưng cuối cùng đuối lý. Ngày 22/6/1962 thêm một cuộc đấu tranh chính trị nữa, có sự phối hợp các lực lượng nhân dân ở các xã Bình Sơn, Tam An, An Lợi, khiến cho địch lúng túng.

Trải qua thời kỳ đấu tranh chính trị, thử thách và khó khăn từ 1954 tới 1961, mặc dù gặp không ít tổn thất hy sinh, nhưng nhân dân Long Thành đã luôn giữ vững niềm tin vào Đảng. Bằng cuộc nổi dậy đầu năm 1960, thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 15, phong trào cách mạng Long Thành đã nhanh chóng được khôi phục và phát triển. Đó cũng là cơ sở để toàn quân, toàn dân trong huyện vững vàng bước vào thời kỳ tiến hành chiến tranh cách mạng góp phần cùng toàn miền Nam lần lượt đánh bại mọi âm mưu chiến lược mới của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.

Giai đoạn 1961 - 1965 là giai đoạn Long Thành cùng miền Nam 3 mũi giáp công, làm phá sản “Âp chiến lược”, từng bước đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Khởi đầu cam go là cuộc đấu tranh chống phá ấp chiến lược. Ngày 17/4/1962, Ngô Đình Diệm ban hành sắc lệnh xây dựng ấp chiến lược trên toàn miền Nam, với 3 hình thức: để dân tại chỗ “hình thức kìm dân”, gom dân các nơi lại “hình thức tát dân” và ấp chiến lược đặc biệt ở vùng đồng bào di cư năm 1954. Trong lúc gom dân xây dựng ấp chiến lược, địch đã dựng nhiều đồn bót, tăng cường quân lực để bảo vệ ấp chiến lược; đã thực hiện âm mưu rải chất độc hóa học trên toàn miền Nam, nhằm phá hoại hoa màu của dân, ép dân phải vào vùng chúng kiểm soát, mục đích đánh vào cơ sở hậu cần của cách mạng.

Huyện ủy chỉ đạo các lực lượng quần chúng khối mặt trận đoàn thể có kế hoạch phá tan âm mưu ấp chiến lược của địch. Ngày 16/1/1962 Đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng huyện Long Thành được tổ chức trong hai ngày tại Phước An, gần 150 đại biểu dự, bầu ra 11 ủy viên, ông Ngô Văn Thập, đại biểu tư sản dân tộc làm Chủ tịch. Mặt trận dân tộc giải phóng ra đời đã lãnh đạo các lực lượng yêu nước, chống ngoại xâm, lần lượt đánh bại mọi âm mưu mị dân của địch, kế hoạch ấp chiến lược ở Long Thành đến năm 1965 thì phá sản.

Từ đầu tháng 1/1964, địch đưa các đơn vị bộ binh thuộc sư đoàn 10 về Long Thành chuẩn bị tổ chức những trận càn lớn vào khu đông và tây lộ 15, vùng ven lộ 17, 19 để tiêu diệt căn cứ xuất quân của cách mạng, cứu nguy cho tình thế ở khu vực Long Thành - Nhơn Trạch, nơi mà địch cho là “vùng ven đô” quan trọng của chính quyền Sài Gòn. Nhiều cuộc càn lớn cũng được thực hiện ở những địa bàn khác. Trước tình hình chuyển biến của chiến trường, tỉnh Bà Biên lại được tách ra làm 2 tỉnh: Biên Hòa và Bà Rịa. Tỉnh ủy Biên Hòa chuyển về đóng căn cứ tại ngọn Suối Cả thuộc huyện Long Thành, Huyện ủy Long Thành chuyển một bộ phận về khu rừng Tam An. Lực lượng vũ trang huyện được củng cố và bổ sung, thành lập đại đội 240 trực thuộc tỉnh, gồm 3 trung đội, với 130 chiến sĩ, vũ khí được trang bị đủ mạnh. Với lực lượng này, huyện Long Thành đã phối hợp với nhiều đơn vị tỉnh (như phối hợp chiến dịch Bình Giã, mở rộng vùng giải phóng) đánh bại các cuộc càn quét, góp phần làm thất bại chiến tranh đặc biệt của Mỹ Ngụy. Rất nhiều chiến công anh hùng đã được ghi trong sử sách.

Giai đoạn 1965 - 1968, Long Thành cùng cả nước tập trung đánh quân viễn chinh Mỹ và chư hầu, làm thất bại âm mưu chiến tranh cục bộ của Mỹ Ngụy. Trong giai đoạn này, quân dân Long Thành đã phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng, đúc kết bài học kinh nghiệm trong chiến đấu, quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, tạo thế tấn công, giữ vững vùng làm chủ.

Đầu tháng 5/1965, lữ đoàn lính dù Mỹ mang phiên hiệu 173 xuất hiện, đồn trú tại tổng kho Long Bình (Biên Hòa) và khu căn cứ Nước Trong (Long Thành). Tiếp theo, các đơn vị lính Mỹ được trang bị vũ khí hiện đại, lập căn cứ đóng quân ở ven sông Lòng Tàu, sông Đồng Nai, Thành Tuy Hạ, Bình Sơn, Dốc Thái, Vườn Điều, chùa Nước Nhĩ, Bến Sắn, Phước Hòa, chi khu Long Thành. Tổng kho Long Bình, sân bay Biên Hòa và kho Thành Tuy Hạ được tuyên bố là khu vực bất khả thâm nhập. Các lực lượng vũ trang Long Thành, Biên Hòa hỗ trợ cho lực lượng đặc công 3 lần làm nổ tung tổng kho Long Bình, ba lần đốt cháy kho bom Thành Tuy Hạ, 4 lần dội bão lửa vào sân bay Biên Hòa, làm thủng dạ dày chiến tranh của Mỹ, làm tê liệt bộ não chiến tranh của giới cầm quyền, làm kinh động trái tim của quân hiếu chiến.

Huyện ủy Long Thành chỉ đạo xây dựng thế chiến đấu phải đứng vững trên địa bàn, tấn công địch liên tục bằng ba mũi giáp công. Thông qua những trận đánh Mỹ, Huyện ủy Long Thành đã rút ra kết luận: Chủ yếu lính Mỹ dựa vào vũ khí hiện đại. Loại máy bay B52 và pháo bầy với phương thức sử dụng của địch trên chiến trường Long Thành chỉ áp dụng được ở những trận địa không có lính Mỹ, nếu ta áp sát địch, nắm thắt lưng Mỹ mà đánh thì B52 và pháo bầy trở nên vô tác dụng. Kết luận của Huyện ủy Long Thành rất phù hợp với thông báo của Tỉnh đội và Tỉnh ủy Biên Hòa “Mỹ tuy đông, có đầy đủ vũ khí nhưng có nhiều nhược điểm, không quen địa hình, hành quân đến đâu là kết hợp phi pháo bắn phá. Lính Mỹ chỉ tiến theo một đường thẳng. Vì vậy phải áp sát địch mà đánh, sẽ bảo toàn lực lượng của ta”. Quân dân Long Thành đã mưu trí, sáng tạo, linh hoạt trong từng trận đánh, giữ vững địa bàn làm chủ, góp phần đánh bại chiến tranh cục bộ của địch. Trong Lịch sử Đảng bộ Long Thành, đã nêu rõ mục đích, ý nghĩa và thắng lợi của từng trận đánh.

Ngày 7/10/1967, Trung ương Cục quyết định giải thể khu miền Đông, thành lập 5 phân khu để chuẩn bị cho cuộc tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Phân khu 4 gồm cao su Bình Sơn, các huyện Long Thành, Nhơn Trạch, Duyên Hải, Thủ Đức, quận 9 và quận 1 (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Chấp hành chỉ thị của Phân khu 4, quân dân Long Thành đã hăng hái chiến đấu, chuẩn bị cho đợt tấn công vào mùa xuân năm 1968. Tất cả cho ngày tổng tấn công. Ban quân lương của huyện đã thu về hàng ngàn giạ lúa, hàng chục triệu đồng để chuẩn bị cho đợt xuống đường.

Đêm giao thừa (31/1 và rạng sáng 1/2/1968) tiếng pháo Tết nổ ran, tiếng súng của quân dân huyện Long Thành đồng loạt cùng với đồng bào miền Nam tấn công quân địch trên khắp các chiến trường. Trong 3 đợt xuống đường năm Mậu Thân, quân dân Long Thành đã hoàn thành mục tiêu dội pháo vào Chi khu Long Thành, đồng loạt tiến công và nổi dậy làm chủ các xã trong một thời gian, chặn đánh các đợt phản kích và càn quét của địch, đã liên tục đánh địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại nặng nề. Mặc dù có nhiều tổn thất trong các đợt tiến công, nhưng quân dân Long Thành đã góp phần xứng đáng cùng toàn Miền, đẩy Mỹ và tay sai lao nhanh đến sụp đổ và làm cho Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ và tay sai bị phá sản hoàn toàn. Giai đoạn 1969 - 1975, Long Thành kiên quyết bám trụ, giữ vững phong trào cách mạng, tham gia chiến dịch Nguyễn Huệ, cùng miền Nam tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Trong chiến dịch mùa Xuân 1975 lịch sử, quân dân Long Thành góp công ở tất cả các mặt trận, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đến chiều 29/4/1975, các trận đánh trên địa bàn huyện đều thặng lợi, ngụy quân, ngụy quyền tiếp tục trình diện; hơn 700 tàn binh nguyên vẹn quân trang quân dụng trình diện ở Bình Sơn. Lực lượng này có thể đánh chiếm cả xã Bình Sơn, nhưng cở sở làm tốt công tác binh vận và chính sách cánh mạng nên số hàng binh này an lòng trở về với gia đình. Đến 15 giờ, tại thị trấn Long Thành, tên Ách Phước - Bí thư đảng Dân chủ, Võ Văn Năng - Chánh văn phòng, Lê Bá Bửu - Quận đoàn trưởng ra trình diện.

15 giờ 30 phút, tiểu đoàn 348 của địch (ở đồn Phước Thái bại trận trốn ở cổng gỗ Bình Lâm) cho người về xin đầu hàng. Gần 400 lính Sài Gòn đầu hàng được đồng bào xã Lộc An tiếp quản.

Các lực lượng ta tiếp tục truy quét tàn binh địch.

Đến 17 giờ, theo báo cáo các xã gửi về ở Long Thành, Nhơn Trạch, lực lượng cách mạng đã tiêu diệt 680 tên địch (trong đó 180 là lính bảo an), bắt sống 708 tên. Địch ra trình diện 4.598 tên, trong đó có nhiều sĩ quan các cấp (2 đại tá, 9 trung tá, 14 thiếu tá, 265 cấp úy). Ta thu được nhiều chiến lợi phẩm. Riêng số phương tiện chiến tranh thu được gồm: 13 khẩu pháo 105 ly, 3 khẩu 155 ly, 6 khẩu cối 81 ly, 13 khẩu cối 60 ly, 8 khẩu 12 ly 7, 1 kho đạn, bom, 40 tàu xuồng, 2 xe tăng M41, 2 xe M113, bắn rơi 5 máy bay, thu và phá hủy 25 xe quân sự. Súng bộ binh thu được 5.885 khẩu, 25 máy vô tuyến.

Long Thành giải phóng hoàn toàn. Đồng bào di tản từ phía rừng Cao Thái, khu vực cô nhi viện, các căn cứ lần lượt kéo về thị trấn, các xã. Một không khí phấn khởi, tươi vui trên gương mặt của nhiều người dân mong chờ ngày độc lập. Trong khi đó, trên lộ 25 hướng từ Bình Sơn lên, nhiều đoàn xe chở bộ đội, xe kéo pháo, xe hậu cần từng chiếc nối đuôi chạy qua thị trấn Long Thành đến ngã ba Cầu Xéo qua tỉnh lộ 17 tiến về Nhơn Trạch, bến phà Cát Lái để tiếp tục hướng tấn công vào Sài Gòn - thủ phủ cuối cùng của chính quyền Sài Gòn đang từng cơn hấp hối.

Không giờ ngày 29/4/1975, quân giải phóng bắt đầu từ nhiều hướng tấn công Sài Gòn. Ngày 30/4/1975, Sài Gòn giải phóng. Long Thành hòa trong niềm vui chung của cả nước.

Thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của Đảng bộ và quân dân Long Thành trong 30 năm đúc kết một bài học về nghệ thuật phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân toàn diện, làm hành trang để Đảng bộ và quân dân Long Thành bước vào cuộc đấu tranh mới không kém cam go thử thách: Huy động sức mạnh tổng hợp toàn dân khắc phục hậu quả chiến tranh, cùng cả nước đi lên thực hiện công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trên địa bàn huyện Long Thành, nhiều tập thể đã được phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”: Xã Tam An (6/11/1978), xã Bình Sơn (6/11/1978), xã Long Phước (20/12/1994), xã An Phước (29/1/1996), xã Tam Phước (29/1/1996), xã Phước Thái (29/1/1996), xã Long An (8/4/2000), xã An Hòa (8/4/2000), Đồn điền cao su Ông Quế (8/4/2000); 201 mẹ đã được Chủ tịch Nước phong tặng và truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Thành tích của Đảng bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân huyện Long Thành được Nhà nước ghi nhận, xét tặng danh hiệu tập thể Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 2/8/1998

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Long Thành | Câu chuyện thời hoa lửa