Anh hùng Lực lượng vũ trang

Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Vĩnh Cửu

Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Vĩnh Cửu

Đồng Nai02/07/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vĩnh Cửu là một huyện thuộc tỉnh Đồng Nai, vị trí ở phía Tây Bắc tỉnh lỵ Đồng Nai, trải dài từ Vườn quốc gia Cát Tiên đến thành phố Biên Hòa; có địa giới hành chính tiếp giáp các huyện thuộc tỉnh Đồng Nai (Tân Phú, Định Quán, Trảng Bom, thành phố Biên Hòa) cùng huyện Phú Giáo, Tân Uyên của Bình Dương và huyện Đồng Phú của tỉnh Bình Phước. Huyện Vĩnh Cửu có diện tích 1.092 km2 và dân số là 124.912 người (năm 2009).

Vĩnh Cửu là địa bàn cư trú lâu đời của người cổ xưa. Kết quả khảo cổ cho thấy người cổ xưa đã sinh sống nơi đây với nền văn minh thời đồ đá, kim khí, được chứng minh qua các hiện vật tìm thấy ở ven sông Tân Triều, Cù Lao Rùa, Bình Thạnh, Thiện Tân, Cẩm Vinh, Cây Gáo... niên đại sớm nhất cách đây 3.000-2.500 năm. Các hiện vật thuộc lớp văn hóa Óc Eo nhiều thời kỳ (thế kỷ 3 đến thế kỷ 10 SCN) cũng được tìm thấy nhiều nơi trên địa bàn Vĩnh Cửu. Nhưng, chủ nhân của những nền văn hóa này đến nay vẫn chưa có đủ lời giải tường minh.

Theo sử sách, trước thế kỷ 17, vùng đất thuộc huyện Vĩnh Cửu ngày nay còn là một vùng đất rừng rậm hoang vu. Lê Quý Đôn trong tác phẩm Phủ biên tạp lục viết vào thế kỷ 18, cho rằng người Việt có mặt trên đất Vĩnh Cửu có lẽ vào thế kỷ 17. Họ là những người nông dân phản kháng sự áp bức của chế độ phong kiến và chống đối chiến tranh của hai tập đoàn Trịnh (phía Bắc) và Nguyễn (phía Nam), nên đã tìm đến phương Nam để sinh sống. Nhiều đợt di dân khác nhau với nhiều lý do khác nhau. Có thể họ ngược các dòng sông lớn, dừng lại ở nơi đất lành; trong đó vùng Bến Cá là một trong những địa phương sớm có người Việt đến lập làng, khai khẩn.

Từ năm 1808, thời vua Gia Long (Nguyễn Ánh), vùng đất Vĩnh Cửu thuộc tổng Phước Vinh, huyện Phước Chánh . Năm 1836, vua Minh Mạng cho lập địa bạ các tỉnh để quản lý đất đai. Theo địa bạ, huyện Phước Chánh từ 2 tổng tách thành 6 tổng . Địa bàn huyện Vĩnh Cửu ngày nay thuộc hai tổng Chánh Mỹ Trung và Chánh Mỹ Hạ.

Từ 1945 đến 1948, địa bàn Vĩnh Cửu ngày nay thuộc quận Châu Thành. Ngoài các xã Bình Hòa, Bình Ý, Tân Triều, quận Châu Thành còn bao gồm các xã Tân Hạnh, Tân Hiệp, Bình Trị, Trảng Bom (cả Hố Nai, thuộc huyện Thống Nhất), Tam Hiệp, Tân Phong, Tân Thành, Hóa An, Bửu Hòa, Tân Vạn, Hiệp Hòa (nay thuộc thành phố Biên Hòa), Tân Hưng, An Hòa, Long Hưng, Phước Tân (nay thuộc huyện Long Thành). Các xã Bình Phước, Bình Thạnh, Lợi Hòa, Tân Phú, Bình Long, Thiện Tân, Tân Định, Đại An, Trị An thuộc huyện Tân Uyên. Từ năm 1948 đến 1954, huyện Vĩnh Cửu được thành lập. Địa bàn huyện gồm những xã kể trên cộng thêm 7 xã: Bình Thạnh, Lợi Hòa, Tân Phú, Bình Long, Thiện Tân, Tân Định, Đại An (của huyện Tân Uyên chuyển giao).

Với chính quyền Sài Gòn, từ năm 1945 đến 1963, địa bàn huyện Vĩnh Cửu thuộc tổng Phước Vĩnh Trung của quận Châu Thành gồm các xã: Tân Phong, Bửu Long, Bình Hòa, Bình Ý, Tân Triều, Bình Phước, Bình Long, Lợi Hòa, Bình Thạnh, Tân Phú, Thiện Tân, Tân Định, Đại An, Trị An (năm 1959, địch thành lập tỉnh Phước Thành, trong đó có các xã: Bình Phước, Bình Thạnh, Tân Phú, Lợi Hòa, Bình Long, Thiện Tân, Tân Định, Đại An, Trị An). Năm 1963 đến 1975, chính quyền Sài Gòn lập huyện Công Thanh gồm các xã Bình Ý, Bình Hòa, Tân Triều, Bình Phước, Bình Long, Lợi Hòa, Tân Phú, Bình Thạnh, Thiện Tân, Tân Định, Đại An, Trị An, Thái Hưng.

Với cách mạng kháng chiến, từ năm 1960, huyện Vĩnh Cửu chuyển giao các xã Tân Vạn, Bửu Hòa, Tân Hạnh, Bình Trị, Tân Hiệp về huyện Dĩ An, Lái Thiêu; các xã Tân Phong, Bửu Long, Bửu Hòa, Hóa An, Hiệp Hòa, Tam Hiệp về cho thị xã Biên Hòa; các xã An Hòa, Long Hưng, Phước Tân... về cho huyện Long Thành; các xã Trảng Bom, Hố Nai về cho Ban cán sự di cư (sau là huyện Trảng Bom, Thống Nhất). Huyện Vĩnh Cửu còn lại các xã Trị An, Đại An, Tân Định, Thiện Tân, Tân Phú, Bình Thạnh, Bình Ý, Bình Long, Lợi Hòa, Bình Phước Tân Triều, Bình Hòa, Bửu Long, Tân Thành, Tân Phong.

Tháng 9/1965, huyện Vĩnh Cửu cùng thị xã Biên Hòa thuộc tỉnh Biên Hòa (U1) gồm các xã: Bình Hòa, Bình Ý, Bình Phước, Tân Triều, Bình Thạnh, Lợi Hòa, Tân Phú, Bình Long, Thiện Tân, Tân Định, Đại An, Trị An. Tháng 5/1971, huyện Vĩnh Cửu nhập huyện Trảng Bom bao gồm luôn các xã của huyện này. Tháng 10/1972 đến tháng 4/1975, huyện Vĩnh Cửu tái lập thuộc tỉnh Biên Hòa (nông thôn), có địa giới hành chính như tháng 9-1965.

Ngày 23/12/1985, chuyển huyện Vĩnh Cửu thành thị xã Vĩnh An. Thị xã Vĩnh An gồm 2 phường: Trị An, Cây Gáo và 11 xã: Bình Hòa, Bình Long, Bình Thạnh, Bình Phước, Bình Y, Đại An, Lợi Hòa, Tân Định, Tân Phú, Tân Triều, Thiện Tân; trong đó hai phường Trị An và Cây Gáo được thành lập trên cơ sở giải thể hai xã Cây Gáo và Trị An và các lâm trường Mã Đà, Hiếu Liêm của huyện Tân Phú cắt sang.

Ngày 12/2/1987, địa giới thị xã Vĩnh An có sự thay đổi, điều chỉnh như sau: Sáp nhập ba xã Bình Phước, Bình Ý và Tân Triều thành một xã lấy tên là xã Tân Bình. Sáp nhập hai xã Bình Long và Lợi Hòa thành một xã lấy tên là xã Bình Lợi. Sáp nhập hai xã Bình Thạnh và xã Tân Phú thành một xã lấy tên là xã Thạnh Phú. Sáp nhập hai xã Đại An và xã Tân Định thành một xã lấy tên là xã Tân An. Chia phường Cây Gáo thành hai đơn vị hành chính lấy tên là phường Cây Gáo và xã Vĩnh Tân. Chuyển xã Phú Lý thuộc huyện Tân Phú về thị xã Vĩnh An quản lý.

Đến cuối năm 1991, thị xã Vĩnh An có 2 phường: Cây Gáo, Trị An và 8 xã: Bình Hòa, Bình Lợi, Phú Lý, Tân An, Tân Bình, Thạnh Phú, Thiện Tân, Vĩnh Tân. Ngày 29/8/1994, huyện Vĩnh Cửu được tái lập trên cơ sở giải thể thị xã Vĩnh An; đồng thời giải thể 2 phường Cây Gáo và Trị An để thành lập thị trấn Vĩnh An và xã Trị An. Huyện Vĩnh Cửu sau khi tái lập gồm có thị trấn Vĩnh An và 9 xã: Bình Hòa, Bình Lợi, Phú Lý, Tân An, Tân Bình, Thạnh Phú, Thiện Tân, Trị An, Vĩnh Tân.

Ngày 13/3/2003, thành lập xã Mã Đà trên cơ sở 40.078,47 hécta diện tích tự nhiên và 6.595 nhân khẩu của thị trấn Vĩnh An; thành lập xã Hiếu Liêm trên cơ sở 21.379,55 hécta diện tích tự nhiên và 3.870 nhân khẩu của xã Trị An. Như vậy, huyện Vĩnh Cửu có 1 thị trấn và 11 xã, giữ nguyên trạng như hiện nay.

Huyện Vĩnh Cửu có nhiều lợi thế phát triển kinh tế xã hội. Huyện có diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ cao với 65.921 hécta có trữ lượng gỗ lớn. Có hồ Trị An 32.000 hécta (trong địa phận Vĩnh Cửu là 16.500 hécta) là nguồn nước phong phú phục vụ cho thủy điện Trị An, tưới tiêu nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Có tiềm năng khoáng sản phong phú về chủng loại gồm kim loại quý, nguyên liệu vật liệu xây dựng: cát, đá, keramzit cho sản xuất bê tông nhẹ, puzlan và laterit nguyên liệu phụ gia cho xi măng. Có các cảnh quan nổi tiếng như: Hồ Trị An, khu di tích lịch sử văn hóa chiến khu Đ, các khu vườn ăn trái ven sông Đồng Nai thuận lợi cho du lịch sinh thái - tham quan nghiên cứu.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, huyện Vĩnh Cửu có truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cường, lập nhiều chiến công oanh liệt. Vĩnh Cửu là địa bàn trọng điểm của cách mạng trong xây dựng và bảo vệ căn cứ Chiến khu Đ, cũng là trọng điểm vành đai sân bay Biên Hòa của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Cho nên, địch tập trung đánh phá. Cách mạng tập trung xây dựng và bảo vệ. Chiến tranh ở địa bàn Vĩnh Cửu máu lửa hơn nhiều nơi khác.

Huyện Vĩnh Cửu (lúc đó là quận Châu Thành, Biên Hòa), là cái nôi của phong trào cách mạng tỉnh Biên Hòa; là mảnh đất tốt để gieo cấy, vun trồng tư tưởng cách mạng, nhận thức cách mạng và cách hình thức đấu tranh cách mạng. Nơi đây, đã khởi đầu nhiều hoạt động đầu tiên của phong trào cách mạng ở tỉnh Biên Hòa (cũ): Chi bộ Đảng Cộng sản được thành lập đầu tiên ở Bình Phước - Tân Triều năm 1935; tổ chức cách mạng trong học sinh đầu tiên “Liên đoàn học sinh” thành lập ở Trường Tiểu học Bình Hòa cũng trong năm 1935; Tỉnh ủy Lâm thời Đảng bộ tỉnh Biên Hòa đầu tiên được thành lập sau hội nghị đảng viên tại xã Tân Triều, tháng 2/1937; lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên là đội vũ trang gồm khoảng 35 người do đồng chí Huỳnh Liễng phụ trách, Trần Văn Quỳ chỉ huy trưc tiếp, thành lập khoảng cuối tháng 7/1940; các Ủy ban hành động của cách mạng đầu tiên cũng được thành lập trên địa bàn của quận Châu Thành từ năm 1936, tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi: Xây dựng thư viện Bình dân đặt tại dốc Bà Bành, xã Bình Ý; mít-tinh hơn 200 người dân dự tại Gò Dê, xã Bình Ý; mít tint kỷ niêm ngày Quốc tế lao động 1/5/1937, tại gò Máy bay xã Bình Ý, hơn 100 người dự. Xã Bình Ý thuộc tổng Phước Vĩnh Trung, quận Châu Thành được xem là trung tâm hoạt động của Ủy ban hành động cách mạng tỉnh Biên Hòa.

Trong Cách mạng tháng Tám 1945, quận Châu Thành là nơi khởi động, bộ phận nòng cốt trong lãnh đạo của Ủy ban Khởi nghĩa do các đồng chí Hoàng Minh Châu, Huỳnh Văn Hớn, Ngô Hà Thành lãnh đạo. Từ 15/8/1945, các hoạt động khởi nghĩa, giành chính quyền thực sự đã diễn ra thành công ở hai tổng Phước Vĩnh Trung, Phước Vĩnh Hạ.

Giai đoạn 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) và 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975), Đảng bộ và quân dân huyện Vĩnh Cửu chịu nhiều mất mát hy sinh, đã kiên cường bám trụ địa bàn, phát huy tinh thần tự lực tự cường, sáng tạo trong chiến đấu, kết hợp lực lượng vũ trang địa phương với chủ lực, kết hợp 3 mũi đấu tranh đẩy lui địch từng bước, giành thắng lợi từng phần, tiến lên đánh bại địch hoàn toàn, góp phần vào thắng lợi chung, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Ngay khi quân Pháp được quân đồng minh hỗ trợ, trở lại tái chiếm Nam Bộ, tối ngày 23/9/1945, hội nghị cán bộ toàn tỉnh tại nhà hội Bình Trước do đồng chí Hà Huy Giáp và đồng chí Dương Bạch Mai chủ trì đã quyết định thành lập Tỉnh ủy lâm thời Biên Hòa. Quận ủy Châu Thành được xây dựng (do đồng chí Hồ Văn Leo làm Bí thư) với nhiệm vụ xây dựng căn cứ và chuẩn bị lực lượng kháng chiến. Ủy ban nhân dân lâm thời quận Châu Thành được xây dựng (do đồng chí Nguyễn Văn Long làm Chủ tịch), phát động tuần lễ bạc trong toàn quận, cử người tham dự lớp huấn luyện ở trại du kích Bình Đa - Vĩnh Cửu; phát động phong trào bình dân học vụ “diệt giặc dốt”, chuẩn bị các phương án sản xuất lương thực để “diệt giặc đói”, lập giải phóng quân quận Châu Thành do Doãn Tiến Nghiệp, sau là Lê Văn Ngọc chỉ huy, hăng hái tập luyện để kháng chiến. Khí thế của Đảng bộ và quân dân quận Châu Thành sôi nổi, đầy quyết tâm, luôn sẵn sàng.

Ngày 25/10/1945, Quận ủy, Ủy ban nhân dân quận Châu Thành rút về xã Bình Ý. Tháng 11/1945, thành lập Đội xung phong cảm tử tại đình Bình Thảo gồm 40 thiếu niên dũng cảm. Thành tích nổi bật ban đầu đội là: Đột nhập thị xã đánh diệt quân Anh - Ân, diệt ác trừ gian, nhiều lần xuất hiện ở ngã ba Vườn Mít diệt địch, trong đó có tên quan tư De Rioncourt , phục kích chống càn, tạo các chiến công vang dội ở các trận thắng Cây Đào, ngã ba Bình Ý.

Đêm 1 rạng sáng 2/1/1946, Vệ quốc đoàn Biên Hòa phối hợp nhiều cánh quân, đột nhập vào trung tâm đầu não của giặc ở Biên Hòa, tấn công vào thành Săng Đá, các bót gác ở cầu Gành, nhà máy BIF, sở hiến binh, nhà ga, bưu điện, hãng dầu, nhà thông tin làm cho giặc bất ngờ, khiếp đảm. Đó là hoạt động gây tiếng vang để tổ chức bầu cử Quốc hội đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên địa bàn. Trong ngày hội 6/1/1946, cử tri quận Châu Thành nô nức đi bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên trong không khí cờ hoa, an toàn. Cuối tháng 4/1946, tại hội nghị Bình Hòa, Tỉnh ủy được củng cố.

Tháng 6/1946, thống nhất các lực lượng vũ trang tỉnh Biên Hòa, lấy tên là Chi đội 10 do Huỳnh Văn Nghệ là Chi đội trưởng Giải phóng quân quận Châu Thành trở thành đại đội B do đồng chí Lê Văn Ngọc làm đại đội trưởng. Ngay sau được mang tên mới, Đại đội B Chi đội 10 đã phối hợp chiến đấu, làm nên nhiều chiến thắng làm nức lòng quân dân kháng chiến: Chặn địch chống càn ở Đại An, diệt đồn Cây Gáo, bắt sống 2 sĩ quan Pháp (2/1947). Lần đầu tiên ở Biên Hòa, bộ đội đã hạ đồn giặc chỉ với súng bộ binh. Lần đầu tiên, quân dân quận Châu Thành vinh dự đón tiếp đồng chí Lê Duẩn từ Trung ương theo đường giao liên của quận về Chiến khu Đ lãnh đạo phong trào kháng chiến ở Nam Bộ. Lần đầu tiên, Tỉnh đội bộ quân dân Biên Hòa được thành lập (tháng 12/1947), Quận đội bộ dân quân Châu Thành cũng được thành lập trên cơ sở sáp nhập hai Ban Công tác liên thôn 4 và 5.

Giữa năm 1948, quận Châu Thành được tổ chức thành 2 đơn vị: thị xã Biên Hòa và huyện Vĩnh Cửu. Huyện Vĩnh Cửu gồm có các xã: Bình Hòa, Tân Triều, Bình Ý, Trảng Bom, Bửu Long, Tân Thành, Hóa An, Tân Vạn, Tân Phong, Bửu Hòa, Hiệp Hòa, Tam Hiệp, Long Bình, Long Hưng, Tân Hưng, An Hòa, bao quanh thị xã Biên Hòa. Lập thành tích chào mừng huyện Vĩnh Cửu, tháng 7/1948, du kích Vĩnh Cửu lại phục kích ở Hố Cạn diệt lính Commandos, chặn địch ở Hốc Ông RÓI...

Trong thời gian 1948 đến 1950, quân dân huyện Vĩnh Cửu sát cánh cùng các đơn vị ở chiến khu Bình Đa, Bà Bao, Hố Cạn hoạt động trong lòng địch, thực sự trở thành trung tâm văn hoá, sinh hoạt kháng chiến khiến địch nhức nhối mà không làm gì được.

Từ năm 1950, Vĩnh Cửu càng trở thành địa bàn trọng yếu. Bộ Tư lệnh Nam Bộ đã xác định vị trí chiến lược của Vĩnh Cửu: “Vĩnh Cửu là bàn đạp của cách mạng tấn công vào thị xã, nơi trú quân và dừng chân của các lực lượng, đường giao thông quan trọng từ chiến khu Đ xuống Long Thành, Bà Rịa, là nguồn nhân vật lực cung cấp cho kháng chiến”. Đảng bộ và quân dân huyện Vĩnh Cửu có nhiệm vụ: “Giữ vững và xây dựng huyện Vĩnh Cửu thành một căn cứ du kích” để giữ địa bàn chiến lược này. Huyện Vĩnh Cửu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Thành tích nổi bật là tham gia các trận đánh giao thông, đánh đồn Long Điềm vào tháng 6/1951, diệt yếu khu Trảng Bom vào tháng 7/1951.

Từ năm 1952, huyện Vĩnh Cửu tập trung cho nhiệm vụ vượt qua khó khăn bão lụt, phối hợp chiến trường chung giành thắng lợi hoàn toàn. Tháng 10/1952, trận lụt Nhâm Thìn gây thiệt hại lớn, gió to và nước sông Bé, sông Đồng Nai đột ngột dâng cao, tràn cả vào bờ. Chiến khu Đ và các xã ven sông Đồng Nai thuộc huyện Vĩnh Cửu bị chìm ngập trong bể nước mênh mông, có nơi nước dâng cao đến 3 mét, 10 mét. Việc khắc phục thiệt hại cho dân, cứu giúp cả đồn bót giặc đã khiến cho Đảng bộ và quân dân cực kỳ vất vả. Nhờ lãnh đạo tốt, quân dân đoàn kết, quyết tâm cao; việc cứu đói, phòng bệnh đạt hiệu quả, sản xuất sớm khôi phục, lương thực đảm bảo, niềm tin và khí thế cách mạng hào hùng, tạo lực cho quân dân Vĩnh Cửu làm nên chiến thắng mới, tiêu biểu như trận chiếm bót Cẩm Vinh (1953), đánh bại cuộc càn quét qui mô vào Chiến khu Đ (1953).

9 năm kháng chiến kiên cường và gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân Vĩnh Cửu kết thúc thắng lợi. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, được tinh thần Cách mạng tháng Tám động viên, quân dân Vĩnh Cửu đã không tiếc xương máu, đóng góp sức người sức của xây dựng huyện thành một địa bàn vùng ven vững chắc, góp công lớn trong việc vừa bảo vệ Chiến khu Đ, vừa làm bàn đạp để lực lượng kháng chiến tiến công địch ở vùng sâu và thị xã Biên Hòa, đánh các giao thông chiến lược ở lộ 1, lộ 15, đường sắt Sài Gòn - Biên Hòa, Trảng Bom,... đảm bảo hành lang giao liên chiến lược từ Chiến khu Đ mở xuống Long Thành, Bà Rịa và ngược lại.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, huyện Vĩnh Cửu cùng cả nước thăng trầm qua nhiều giai đoạn. Giai đoạn đầu 1954¬1959, niềm vui hòa bình không lâu, liền sau đó là cuộc đấu tranh chính trị đòi dân sinh, dân chủ, đòi thi hành Hiệp định Genève. Sau hội nghị mừng chiến thắng tại Nhà Nai, ngậm ngùi tiễn người thân đi tập kết, vui chẳng tày gang, quân dân Vĩnh Cửu liền phải đương đầu với cuộc chiến mới, âm mưu thủ đoạn mới.

Vĩnh Cửu là huyện có vị trí quan trọng vùng ven bao quanh thị xã Biên Hòa, cửa ngõ vào Sài Gòn, đồng thời cũng là cửa ngõ án ngữ Chiến khu Đ. Do đó, ngay từ đầu, chính quyền Mỹ Diệm đã rất chú trọng đánh phá cả về quân sự lẫn chính trị, huy động các lực lượng, thực hiện các thủ đoạn, âm mưu tàn độc nhất. Các cuộc bắt bớ, khủng bố, tù đày, mua chuộc, dụ dỗ diễn ra thường xuyên với mức độ thâm độc, tàn ác, tinh vi hơn bao giờ hết.

Cán bộ cách mạng được phân công ở lại vừa phải lẩn thoát thủ đoạn của địch, vừa bám dân, xây dựng cơ sở, tiếp tục lãnh đạo quần chúng thực hiện cuộc đấu tranh mới. Niềm tin vào Đảng vào thắng lợi của cách mạng vẫn còn ấm nồng nên ở địa bàn Vĩnh Cửu sớm gầy dựng lại các cơ sở cách mạng trung kiên, tổ chức nhiều hoạt động được quần chúng nhiệt thành tham gia: Công tác binh vận làm rõ âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, mít- tinh tháng 10/1955 tại Cù lao Vịt, Bình Hòa; phong trào chống trò bịp vận động bầu cử của Mỹ Diệm (tháng 2 và tháng 3/1956); phong trào chống phá âm mưu chiến dịch Trương Tấn Bửu. Nhân dân tận lòng nuôi giấu cán bộ, nhiều tấm gương hay như má Tám Nghệ ở Cây Da (Tân Phú), má Tám ở Bàu Tre (Bình Long). Nhân dân Vĩnh Cửu cũng chính là người nuôi giấu, giúp đỡ tù chính trị thoát cuộc truy lùng của giặc, trở về với kháng chiến trong cuộc phá khám Tân Hiệp ngày 2/12/1956.

Đến cuối năm 1959, cơ sở Đảng và tổ chức quần chúng cơ bản được củng cố; lãnh đạo cấp ủy được phân công bám địa bàn, vận động quần chúng, tăng cường lãnh đạo Đảng ở vùng sâu, vùng yếu, tổ chức quần chúng đấu tranh chống tố cộng, bắt bớ, hãm hại người kháng chiến, chống chiếm đất mở rộng sân bay (1957), buộc bồi thường thiệt hại cho dân (1958), bảo vệ quyền lợi dân trồng mía, đấu tranh vạch trần âm mưu hãm hại tù chính trị ở Phú Lợi 1959, chống luật 10/59 tàn ác. Huyện Vĩnh Cửu là địa bàn cơ sở để biệt đội C250 diệt Mỹ ở Nhà Xanh 7/7/1959.

Khi Trung ương có Nghị quyết 15 về lãnh đạo cuộc đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang ở Nam Bộ, quân dân huyện Vĩnh Cửu tập trung thực hiện nhiệm vụ được giao: Củng cố tổ chức, xây dựng vũ trang, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị. Tháng 9/1960, Trung ương Cục miền Nam quyết định thành lập tỉnh Thủ Biên, huyện Vĩnh Cửu được tổ chức lại gồm 13 xã: Bình Hòa, Bình Ý, Bình Phước, Tân Triều, Lợi Hòa, Bình Thạnh, Tân Phú, Bình Long, Thiện Tân, Tân Định, Đại An, Trị An, Cây Gáo và thị trấn Trảng Bom. Các xã còn lại chuyển giao về thành phố Biên Hòa. 100 thanh niên nam nữ các xã Bình Long, Tân Phú, Lợi Hòa, Thiện Tân, Tân Định, Đại An, Trị An,... hăng hái ra chiến khu tham gia kháng chiến. Ngày 29/12/1960, tổ chức mít-ting ở Thiện Tân mừng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Lực lượng vũ trang vừa được củng cố của Vĩnh Cửu; phối hợp Tiểu đoàn 800 diệt Chi khu Hiếu Liêm (ngày 16/3/1961), thắng trận Lò Than, Bến Cá cuối năm 1961. Trải qua thời kỳ từ 1954-1959, tuy gặp nhiều khó khăn trước kẻ thù hung ác, có bạo lực, Đảng bộ và nhân dân huyện Vĩnh Cửu dù bị nhiều thiệt hại, nhưng luôn luôn thể hiện được niềm tin vào lý tưởng cách mạng, một lòng chở che cho cán bộ hoạt động. Nhiều đảng viên bị bắt đã thể hiện khí tiết của người cộng sản. Lòng trung thành đó lý giải vì sao khi có Nghị quyết 15, phong trào cách mạng của huyện Vĩnh Cửu lại khôi phục và phát triển nhanh, mạnh hơn nhiều nơi khác. Từ đấu tranh chính trị thuần túy, Đảng bộ và quân dân Vĩnh Cửu chính thức bước vào cuộc đấu tranh vũ trang giành nhiều thắng lợi quan trọng.

Từ sau đồng khởi 1960 đến 1965, quân dân Vĩnh Cửu cùng cả nước đánh địch bình định, chống phá ấp chiến lược, mở rộng vùng làm chủ. Thời gian này, các tổ chức nhân dân và các lực lượng vũ trang trên địa bàn Vĩnh Cửu đều đã trưởng thành. Nhưng, âm mưu và thủ đoạn của địch càng thêm quyết liệt, tăng cường đánh phá với quy mô lớn và vũ khí chiến tranh hiện đại.

Tháng 11 năm 1961, kế hoạch Staley - Taylor, thực hiện chiến lược Chiến tranh đặc biệt được thông qua. Vĩnh Cửu là địa bàn vùng ven các hậu cứ lớn của địch ở Biên Hòa, nên chúng tập trung chủ lực càn quét, mạnh nhất là ở vùng Trị An, Đại An, Tân Định, Thiện Tân; địch mở những cuộc hành quân đánh phá vào các căn cứ cách mạng, như cuộc hành quân “Mặt trời mọc” kéo dài đến tháng 12/1962, đánh vào Chiến khu Đ, Hiếu Liêm, Đại An, Trị An. Từ Thiện Tân lên Trị An, Cây Gáo, địch xây đồn, lập tua, bót, tạo tuyến phòng ngự dọc sông Đồng Nai nhằm ngăn chặn lực lượng cách mạng từ Chiến khu Đ qua hoạt động.

Tháng 4/1962, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam ra Nghị quyết về phương hướng tiến lên của cách mạng miền Nam: trong đó trọng yếu là kiên quyết phá ấp chiến lược gom dân của địch, ra sức mở rộng căn cứ địa. Vĩnh Cửu có vị trí chiến lược quan trọng. Với địch là bàn đạp ngăn chặn lực lượng cách mạng và tiến công vào Chiến khu Đ, vùng ven bảo vệ cơ quan đầu não miền Đông ở thành phố Biên Hòa. Do đó, chúng sẽ tập trung lực lượng và áp dụng các thủ đoạn thâm độc nhằm biến Vĩnh Cửu thành vùng trắng, làm mất địa bàn của cách mạng, cắt đứt mối liên hệ giữa kháng chiến với quần chúng nhân dân. Với cách mạng, Vĩnh Cửu là vùng cung cấp nhân lực, vật lực cho tỉnh, bàn đạp tiến công địch ở thị xã Biên Hòa, cửa ngõ án ngữ bảo vệ căn cứ Chiến khu Đ, là đường hành lang vận chuyển chiến lược của Khu và các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Do vậy, cuộc đấu tranh giữa ta và địch sẽ hết sức gay go, ác liệt. Nhưng ta có chỗ dựa vững chắc là nhân dân có truyền thống cách mạng, có Huyện ủy, chi bộ, đảng viên một lòng một dạ vì sự nghiệp cách mạng.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Cục miền Nam, Đảng bộ huyện Vĩnh Cửu lãnh đạo quán triệt đầy đủ phương châm, phương thức vùng tranh chấp, vùng yếu, vùng sâu, tạo thế bám trụ trong dân, giáo dục quần chúng đấu tranh, phát động nhiều phong trào chống phá ấp chiến lược, nỗ lực sản xuất, chống đói, nhiều lúc đào củ chụp nuôi quân. Tháng 7/1963, huyện chỉ đạo củng cố, xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền ở huyện và cơ sở, huyện cũng chỉ đạo củng cố lại đội du kích ở các xã, mạnh nhất là các đội du kích Trị An, Tân Phú, Lợi Hòa. Lực lượng vũ trang phối hợp các đơn vị tổ chức đánh thắng: Trận Đại An (ngày 24/11/1963); giải phóng hoàn toàn, làm chủ đồn Trị An trong 28 ngày (ngày 2/2/1964), diệt đồn Kim Liên (ngày 3/2/1964), tạo thế mở rộng Chiến khu Đ về phía Nam, tạo địa bàn cho các lực lượng vũ trang vào hoạt động vùng sâu và tiến công cơ sở quân sự của địch trong thị xã Biên Hòa; phối hợp tiểu đoàn 800 diệt đồn Cây Gáo (tháng 7-1964), diệt Chi khu Hiếu Liêm (ngày 12/9/1964); tham gia, phối hợp quân chủ lực tập kích bằng pháo vào Sân bay

Biên Hòa (ngày 31/10/1964). Ngoài ra, bộ đội Vĩnh Cửu còn chủ động diệt đồn Bình Long (năm 1964).

Trong quá trình chiến đấu liên tục, lực lượng vũ trang huyện Vĩnh Cửu trưởng thành nhanh chóng, bộ đội huyện phát triển thành một đại đội mạnh, các xã đều có đội du kích bám sát cơ sở sẵn sàng đánh địch. Các đoàn thể thanh niên, phụ nữ đều xây dựng nòng cốt tận xã, ấp, tạo điều kiện cho đấu tranh chính trị, binh vận và phục vụ chiến đấu. Đánh bại hệ thống ấp chiến lược của địch ở Vĩnh Cửu. Đảng bộ và quân dân huyện đã triển khai được thế trận mới. Quân dân Vĩnh Cửu dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Huyện ủy đã sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới hết sức gian khổ và phức tạp: Bám địa bàn, phát triển chiến tranh nhân dân tạo điều kiện tiến công địch, đánh vào các hậu cứ, kho tàng, diệt phương tiện chiến tranh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Vĩnh Cửu cũng là địa bàn “bàn đạp” để quân ta tiến công hang ổ địch. Quân dân Vĩnh Cửu đã tạo điều kiện, trợ giúp về thông tin, hậu cần để quân chủ lực đánh Sân bay Biên Hòa. Đêm 23 rạng sáng 24/8/1965, lực lượng Vĩnh Cửu cùng bộ đội miền đánh bại cuộc hành quân vào Đại An ngày 11/11/1965 của lữ dù 173 Mỹ. Lần đầu tiên ở Biên Hòa, quân viễn chinh Mỹ bị đánh diệt ở Gang Tói (Đại An), tạo niềm tin ta có khả năng thắng Mỹ; tháng 4/1966, tiếp tục phục kích diệt 47 lính Mỹ ngoài vòng rào sân bay Biên Hòa. Bộ đội Vĩnh Cửu còn tấn công diệt địch ở đồn Đại An do tên Tăng Văn Lùn (tức Ba Lùn) chỉ huy làm lung lay tinh thần binh lính trong hệ thống đồn bót trên địa bàn.

Năm 1966, Đảng bộ huyện Vĩnh Cửu được Tỉnh ủy Biên Hòa U1 giao nhiệm vụ... tích cực chuẩn bị lương thực, nắm tình hình địch, phục vụ tin tức cho đặc công tiềm nhập nghiên cứu hậu cứ, kho tàng địch. Nhờ có sự giúp đỡ, phối hợp của quân dân địa phương, 2 giờ sáng ngày 22/6/1966, các chiến sĩ đặc công U1 do đồng chí Nguyễn Tấn Vàng, Nguyễn Văn Thái (Tư Già), Bùi Văn Hòa chỉ huy đã vượt qua mọi chướng ngại phòng thủ, dùng mìn hẹn giờ đánh vào khu đồi 53 trong tổng kho Long Bình, phá hủy 40.000 quả đạn pháo 155 ly của Mỹ chưa kịp đem đi gây tội ác. Bốn tháng sau, đêm 26/10/1966, đặc công U1 bí mật vượt nhiều lớp kẽm gai đột nhập kho Long Bình; đặt bom, phá hủy 125.000 quả đạn các loại. Tiếp theo, trong hai đêm 17/11/1966 và 9/12/1966, đặc công lại bí mật tập kích bằng mìn vào các khu kho lớn ở đồi 53, phá hủy 228.6000 ngàn quả đạn pháo, rốc-két. Vào lúc 2 giờ 45 phút ngày 4/2/1967, thêm một lần nữa, đại đội 2 đặc công U1 do đồng chí Nguyễn Văn Thái chỉ huy đã bí mật dùng mìn gắn kíp nổ hẹn giờ đánh đồng loạt vào 40 kho bom đạn trong tổng kho Long Bình, phá hủy 800.000 quả đạn pháo 105, 155 ly. Các chiến công liên tiếp đánh vào dạ dày của Mỹ ở tổng kho Long Bình thuộc về các đơn vị đặc công. Nhưng, đơn vị chiến thắng nào cũng nhớ đến tâm sức của quân dân Vĩnh Cửu; như ở ấp 7, chi bộ Thiện Tân với 5 hầm bí mật cất giấu lương thực và vũ khí cho đặc công tỉnh.

Đêm 11/5/1967, trung đoàn pháo 274 ĐKB từ Chiến khu Đ hành quân về Tân Tịch xây trận địa pháo với 48 khẩu ĐKB. Bộ đội huyện Vĩnh Cửu cũng lên đường, bố trí án ngữ dọc đường Kiểm, Đồng Lách, tạo điều kiện cho đội cối tỉnh xây dựng trận địa pháo tại đồi Bà Già (Kẻ Sặt - Hố Nai) với 2 khẩu ĐKZ 75. Chi bộ Tân Phú, Bình Long tổ chức trận địa giả ở bờ sông Đồng Nai để nghi binh. 1 giờ sáng ngày 12/5/1967, 50 khẩu ĐKB và ĐKZ nã đạn vào sân bay Biên Hòa. Sân bay chìm trong biển lửa, 150 máy bay các loại bị phá hủy, nhiều sĩ quan phi công và kỹ thuật Mỹ bị diệt.

Tham gia cuộc tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, lực lượng huyện Vĩnh Cửu hành quân về địa điểm tập kết tại chùa Cao Đài (Tân Phú) chờ lệnh hợp đồng theo tiếng pháo sân bay Biên Hòa. Từ hướng Lò Thổi (Tân Phú) lực lượng huyện, đặc công tỉnh và sư 5 tăng cường tiến công vào chi khu Công Thanh do một đại đội bảo an đóng giữ. Đợt tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968, huyện Vĩnh Cửu hoàn thành nhiệm vụ được giao, thắng lợi về chính trị nhưng nhiều hy sinh, tổn thất. Vĩnh Cửu là huyện chiếm lĩnh và làm chủ dài ngày nhất so với các huyện trong tỉnh.

Ngày 5/4/1968, lực lượng Vĩnh Cửu cùng các đơn vị đóng quân trên địa bàn đánh bại cuộc hành quân của lữ 1 thuộc sư 9 bộ binh Mỹ càn vào Đại An. Như vậy, ngay khi quân viễn chinh Mỹ đổ quân vào Biên Hòa, Vĩnh Cửu, Đảng bộ, quân dân huyện đã xác định những khó khăn, thuận lợi để tạo thế trận đánh địch. Với tinh thần bám trụ kiên cường, Đảng bộ, quân dân huyện Vĩnh Cửu từng bước khắc phục khó khăn, giữ vững và phát triển được cơ sở cách mạng, tạo điều kiện tích cực cho các lực lượng vũ trang tiến công các cơ quan đầu não, sân bay Biên Hòa, kho Long Bình, diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ và tay sai, góp phần lớn trong việc hỗ trợ chiến trường chung đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô của địch.

Cuối năm 1968 đến 1973, địch tăng cường càn quét, đánh phá, quyết tiêu diệt sinh lực của cách mạng sau sự kiện Mậu Thân. Tình hình Vĩnh Cửu hết sức khó khăn. Lực lượng huyện Vĩnh Cửu đã bị nhiều tổn thất. Lúc này, hầu hết các xã không còn chi bộ, chỉ còn đảng viên lẻ (trừ Tân Phú, Tân Định, Thiện Tân). Du kích xã nào còn nhiều là 1 tiểu đội (ở các xã Thiện Tân, Tân Định, Đại An, Bình Long). Các xã khác ở vùng sâu không còn du kích, bộ đội huyện phải tăng cường. Cán bộ chiến sĩ bám trụ phải ở hầm chật chội, nóng nực, thiếu không khí, nhưng tất cả đều không ngại gian khổ, quyết tâm bám lại để xây dựng cơ sở. Nhiều cán bộ hy sinh anh dũng, như trường hợp ngày 16/1/1969, địch càn vào Lợi Hòa, các đồng chí Thành, Phúc, Bảy Cúc, Nhung, Hùng, Dũng bị lộ hầm ở Dõ Sa, địch gọi hàng, các đồng chí chiến đấu đến viên đạn cuối cùng.

Tuy tình hình hết sức khó khăn, nhưng Huyện ủy Vĩnh Cửu vẫn chỉ đạo cho các chi bộ tích cực xây dựng cơ sở, chuẩn bị phối hợp với các lực lượng vũ trang tiến công địch. Ngày 20/5/1969, chi bộ xã Tân Phú, Tân Định bí mật đưa tiểu đoàn 1 đặc công tỉnh về tập kích bằng pháo vào chi khu Công Thanh và bót Rạch Đông. Cả hai nơi, ta bắn sập 17 nhà lính, diệt 31 tên bảo an. Ngày 31/5/ 1969, tiểu đoàn đặc công tỉnh tập kích vào cụm pháo Mỹ ở Bà Cô (Thiện Tân), phá hủy 5 khẩu pháo. Cùng thời gian, đặc công đánh vào cụm pháo Ba Dốc, phá hủy 2 khẩu pháo 155 ly; du kích dẫn đường đưa 1 tổ đặc công dùng mìn, thủ pháo tiến công bọn lính sư đoàn 18 và biệt động quân ở Tân Định, diệt 10 tên.

Đêm 7/6/1969, Chi bộ Tân Phú tổ chức cơ sở đưa đặc công tỉnh về Gò Găng xây dựng trận địa pháo dã chiến. Từ đây, những quả đạn H12 được cất giấu trước đã được phóng vào sân bay Biên Hòa. Ba chiếc máy bay phản lực F.105 bị phá hủy, 2 giặc lái Mỹ bị diệt, kho bom Bình Ý trúng đạn nổ tung. Sống trong vòng kìm kẹp của địch, ra vào bị tra xét, đi lại bị khống chế nhưng lòng dân Vĩnh Cửu vẫn hướng về cách mạng. Các má Tám, má Hai, chị Bảy Hào, Út Sao, Tư Hoạch làm ruộng lúa ở Ông Tạ (Tân Định) khi gặt lúa đập xong đều để lại ruộng một số lúa cho cách mạng. Đêm 20/1/1970, pháo đặc công của tỉnh về ém tại Chân Chùa, trời tối đen như mực, các chiến sĩ nhanh chóng lập bệ phóng. Đạn ĐKB được đưa lên khỏi mặt đất. 24 giờ đêm, 20 quả đạn ĐKB phát hỏa rót thẳng vào sân bay Biên Hòa. Nhiều tiếng nổ vang lên, tám chiếc trực thăng bị bắn cháy, kho bom trong sân bay bị nổ tung, cả sân bay Biên Hòa rực lửa suốt 3 tiếng đồng hồ.

Những năm tháng từ 1969 đến cuối năm 1971 là thời gian cực kỳ gian khổ đầy thử thách của Đảng bộ và quân dân Vĩnh Cửu. Tuy bị thiệt hại nhưng trải qua khó khăn đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ huyện nhà được tôi luyện càng thêm vững vàng, kiên định. Đến tháng 12/1971, ta đã xây dựng được thế tranh chấp ở 12 ấp trong huyện. Tuy ít, nhưng đây là cố gắng lớn của Đảng bộ huyện. Một thắng lợi có ý nghĩa to lớn ở một địa bàn xung yếu mà lực lượng địch đông gấp bội lực lượng cách mạng. Tin Đảng, tin dân, được nhân dân một lòng nuôi dưỡng, chở che, lực lượng huyện Vĩnh Cửu từng bước trụ lại và tạo thế giữ địa bàn tiến công kẻ thù.

Vĩnh Cửu là địa bàn hình thành các đơn vị chủ lực của Miền. Ngày 3/6/1972, Quân ủy Miền làm lễ thành lập trung đoàn đặc công 113 tại suối Bà Hào (Chiến khu Đ). Đồng chí Nguyễn Thanh Tùng (Chín Tùng) đưa một bộ phận trinh sát đặc công xuống Thiện Tân chuẩn bị địa bàn cho tiểu đoàn 9 và tiểu đoàn pháo thực hiện kế hoạch tiến công Sân bay Biên Hòa. Theo chỉ đạo của Huyện ủy, chi bộ mật Thiện Tân tổ chức 2 tổ nữ thanh làm nhiệm vụ giao liên dẫn đường, thu lương thực cho trung đoàn 113. Việc liên lạc giữa trung đoàn và chi bộ mật Thiện Tân được tổ chức bằng hộp thư kín do đồng chí Ba Thanh, Bí thư chi bộ mật phụ trách. Đêm 1/8/1972, sau 2 tháng thành lập, tạo thế đứng vững ở Thiện Tân, tiểu đoàn 14 đặc công đã dùng ĐKB dội bão lửa vào sân bay Biên Hòa, phá hủy, phá hỏng 74 máy bay các loại, diệt hàng trăm Mỹ ngụy, phá 11 xe quân sự, 2 dàn ra đa, 2 kho xăng, kho bom napal, 1 kho đạn, 1 kho lương thực, 2 kho thiết bị chiến tranh. Đêm 31/8, tiểu đoàn 14 đặc công (trung đoàn 113) tiến công lần 2 vào sân bay Biên Hòa, phá hủy 48 máy bay, diệt 50 Mỹ ngụy. Đêm 9/9/1972, được cơ sở mật ở Tân Phong dẫn đường, tiểu đoàn pháo 174 (đoàn 113) bố trí trận địa ĐKB và hoả tiễn H12 tại dốc Ông Hoàng.

8 giờ sáng 10/9, quả mìn có gắn đầu nổ hẹn giờ do nội tuyến trong sân bay gài phát hỏa. Theo đúng kế hoạch hợp đồng, các khẩu ĐKB và H12 từ dốc Ông Hoàng (lộ 24 Vĩnh Cửu) bắn cấp tập vào các mục tiêu trong sân bay. 175 máy bay gồm phản lực A37, vận tải C130 bị nổ tung, gần 70 lính Mỹ ngụy bị chết. Sân bay Biên Hòa bị tê liệt 3 ngày liền.

Tháng 10/1972, tỉnh Biên Hòa được thành lập lại. Huyện Vĩnh Cửu tách khỏi huyện Trảng Bom. Tháng 1/1973, theo chỉ thị của Trung ương Cục và Tỉnh ủy Biên Hòa, Huyện ủy Vĩnh Cửu chỉ đạo các chi bộ tích cực chuẩn bị lương thực, băng, cờ, khẩu hiệu và chuyển vũ khí, vào đợt “chồm lên chiếm lĩnh” để đánh bại âm mưu “tràn ngập lãnh thổ”, giành dân, lấn đất của địch trước khi có Hiệp định Paris. Điểm của huyện là xã Thiện Tân, diện là 2 xã Tân Định, Đại An. Đêm 26/1/1973, du kích xã Thiện Tân được một tiểu đội đặc công (tiểu đoàn 9) hỗ trợ (gồm 16 tay súng) tiến công đánh chiếm ấp 7 và ấp Ông Hường.

Hiệp định Paris (27/1/1973) đã được ký kết, đó là thắng lợi có ý nghĩa lịch sử đối với cách mạng nước ta. Theo Hiệp định, Mỹ phải rút quân về nước. Nhưng Mỹ không từ bỏ dã tâm “Việt Nam hóa chiến tranh”, vẫn tiếp tục viện trợ quân sự, kinh tế, cố vấn cho chế độ tay sai ở Sài Gòn; đẩy mạnh lấn chiếm, lấy bình định nông thôn làm biện pháp trung tâm đánh phá cách mạng, xóa thế da beo; phục hồi kinh tế, phong tỏa kinh tế cách mạng. Quân dân Vĩnh Cửu chưa kịp vui khi có Hiệp định ngừng bắn, lại phải đối phó với thủ đoạn âm mưu mới lấm chiếm dành dân của ngụy quyền.

Ngày 11/2/1973, địch tiếp tục vi phạm Hiệp định, đẩy mạnh lấn chiếm ở Vĩnh Cửu. Huyện ủy Vĩnh Cửu đã lãnh đạo đấu tranh thắng lợi, đẩy lùi các cuộc càn lấn, ủi đất vi phạm Hiệp định của địch ở Đại An, Bùng Binh (Thiện Tân), Đồng Lách (Tân Định),

Bước vào mùa khô 1974-1975. Huyện ủy Vĩnh Cửu quán triệt Nghị quyết của Trung ương Cục và Nghị quyết của Tỉnh ủy, xác định nhiệm vụ trọng tâm của huyện: Chuyển tranh chấp mạnh và giải phóng 3 xã vùng 1, điểm là Đại An; chuyển tranh chấp 8 xã vùng 2 và 3, tập trung là 2 xã Bình Long, Lợi Hòa; thọc sâu xây dựng cơ sở, du kích mật Tân Phú; đánh phá giao thông lộ 24, đường Kiểm, phối hợp với đoàn 113 đánh các trận địa pháo, sân bay Biên Hòa. Từ 30/11 đến 5/12/1974, tất cả cấp ủy huyện, cán bộ lực lượng vũ trang đều bám các xã chuẩn bị vào đợt. Đêm 7/12, cùng với toàn Miền, toàn tỉnh, quân dân Vĩnh Cửu nổ súng tiến công địch.

Đêm 26/4/1975, Huyện ủy Vĩnh Cửu họp và nêu quyết tâm: “Động viên toàn Đảng bộ, lực lượng vũ trang, bán vũ trang bằng lực lượng 3 mũi tại chỗ, huy động cao nhất mọi cơ sở vật chất, kết hợp lực lượng trên giải phóng toàn huyện...”. Điểm tập trung là Đại An, sau đó phát triển tiến công xuống Tân Định, Thiện Tân, theo lộ 24 tiến chiếm chi khu Công Thanh. Các xã dùng lực lượng tại chỗ bao vây, tiến công và nổi dậy tự giải phóng xã, ấp.

Tình hình diễn ra hết sức nhanh chóng. Thắng lợi dồn dập từ các mặt trận lộ 1, lộ 15 làm nức lòng quân dân Vĩnh Cửu. Ở các xã, đảng viên, nòng cốt tích cực chuẩn bị lương thực, băng cờ, truyền đơn sẵn sàng đón thời cơ mới.

Đêm 28/4/1975, pháo binh ta từ Hiếu Liêm dội cấp tập vào sân bay Biên Hòa, quân đoàn 3 quân đội Sài Gòn. Tiểu đoàn 9 đặc công nhanh chóng triển khai tiến công vào căn cứ thiết giáp Hóc Bà Thức. Ta hoàn toàn chiếm lĩnh căn cứ này, diệt 60 tên, bắt sống tên thiết đoàn trưởng thiết đoàn 15 quân đội Sài Gòn. Cả tiểu đoàn bám trụ, đánh bật nhiều đợt phản kích của 2 tiểu đoàn ngụy có xe tăng, máy bay yểm trợ. Ngày 29/4/1975, lá cờ quyết thắng của tiểu đoàn hiên ngang bay trên nóc nhà chỉ huy căn cứ Hóc Bà Thức. 1 giờ sáng ngày 30/4/1975, bộ đội huyện và du kích lần lượt giải phóng Tân Định, Đại An, rồi tiến chiếm chi khu Công Thanh. Đoàn đặc công 113 tiến công chiếm giữ căn cứ thiết giáp Hóc Bà Thức. Huyện ủy Vĩnh Cửu chỉ đạo lực lượng vũ trang huyện (C26) nhanh chóng hành quân về kết hợp cùng du kích các xã dọc lộ 24 Tân Phú, Lợi Hòa, Bình Thạnh, Bình Phước, Tân Triều, Bình Ý, Bình Hòa cùng quần chúng nhân dân tấn công vũ trang kết hợp với binh vận, kêu gọi bọn địch buông súng đầu hàng. Sáng ngày 30/4/1975, huyện Vĩnh Cửu hoàn toàn được giải phóng, bộ máy chính quyền địa phương gồm 2.087 tên hoàn toàn tan rã. Lịch sử cách mạng huyện Vĩnh Cửu sang trang.

Ngay sau khi huyện nhà cùng miền Nam hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ huyện lãnh đạo toàn diện xây dựng chính quyền cách mạng, khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân, khôi phục và phát triển sản xuất. Vượt qua nhiều khó khăn, Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Cửu đã đoàn kết, vững lòng, chung tay xây dựng và bảo vệ đất nước, làm cho Vĩnh Cửu phát triển toàn diện như ngày hôm nay. Với những thành tích ấy, năm 1996, Đảng bộ và nhân dân huyện Vĩnh Cửu được Chủ tịch Nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Vĩnh Cửu | Câu chuyện thời hoa lửa